Chong ch.óng giấy luôn rất yên tĩnh, chỉ khi gió thổi qua mới phát ra tiếng xào xạc.
Nhưng sự ngưỡng mộ và quyến luyến của trẻ nhỏ dành cho cha mẹ vốn là bản năng.
Năm ấy, tại hội đèn Tết Thượng Nguyên, ta không hề bướng bỉnh tham chơi.
Chỉ là mẹ thuận miệng nói chiếc đèn cá trên gánh hàng rong rất đẹp.
Không ai để ý, nhưng ta lại ghi nhớ thật kỹ.
Ta cầu xin cha mẹ đợi mình một lát, rồi chạy đi đuổi theo người bán hàng rong.
Ta muốn dùng tiền mừng tuổi mua một chiếc đèn cá để lấy lòng mẹ, muốn bà cũng khen ta đôi câu.
Nhưng ta không quen đường phố Biện Kinh, chẳng đuổi kịp người bán hàng rong, cũng không mua được đèn.
Trái lại còn tự làm mình đi lạc, sợ đến mức khóc mãi, khóc thành bộ dạng xấu xí đầy nước mũi.
Mẹ không muốn bế ta, mất kiên nhẫn đẩy ta cho tỳ nữ:
“Đã không thông minh lại chẳng đáng yêu, giữ nó lại có ích gì?
“Ngay cả bọn ăn mày chuyên bắt cóc trẻ con cũng chẳng thèm để mắt tới nó.”
Mẹ nói đúng, bọn họ không cần ta.
Giá mà bọn ăn mày có thể bắt cóc ta đi thì tốt biết bao.
Nhà ai cần trẻ con thì cứ mua ta về.
Sau này, ta thường mơ thấy mình ngồi trên gánh hàng của người bán rong, giúp ông ấy rao bán chính mình:
“Có ai cần A Uẩn mười hai tuổi không?
“Ăn không nhiều, còn biết gấp một chiếc chong ch.óng giấy.”
04
Có người nói, hắn muốn A Uẩn.
Vào ngày sinh thần năm mười bốn tuổi, cha tan triều trở về.
Ông chẳng kịp phủi hết gió tuyết trên người, đã vội vàng chạy tới viện của ta:
“Ôn Uẩn đâu?”
Khi ấy, ta đang theo sư phụ học tỳ bà, đã có chút thành tựu.
Trước lúc rời đi, sư phụ khẽ mỉm cười, nói bà đã kể với cha về sự tiến bộ của ta, có lẽ cha sẽ khen ta chăm chỉ.
Vì vậy, khi cha vội vàng tìm tới, ta vui mừng ôm đàn tỳ bà chạy ra đón.
Ta tưởng ông muốn nghe ta gảy đàn, khen ta cũng giống ông, cũng kế thừa thiên phú của ông.
“Cha, hôm nay sư phụ cũng khen con…”
Nhưng cha sa sầm mặt, nhấc chân đá mạnh một cái.
Ta ôm đàn tỳ bà, chật vật ngã xuống đất.
Lòng bàn tay và cánh tay bị cọ xát đến m.á.u thịt lẫn lộn, đau đến mức nước mắt ta không ngừng lăn xuống.
Cha vẫn chưa hả giận, tức giận quát người mang roi và gậy tới.
“Hôm nay ta phải đ.á.n.h c.h.ế.t con súc sinh không an phận này!”
Sợ cha đ.á.n.h hỏng tay ta, ngày mai sẽ không thể luyện khúc nhạc được.
Ta co người lại, thậm chí không dám che đầu.
Chỉ vừa khóc vừa liên tục gọi cha, nói A Uẩn đau, A Uẩn biết sai rồi.
Cha đ.á.n.h đến thở hồng hộc, mẹ mới chậm rãi tới nơi.
Bà không nhìn ta bị đ.á.n.h đến toàn thân bầm tím, đang khóc lóc cầu xin.
Trái lại còn quan tâm cha, đau lòng cau mày: “Sao ông lại tức giận đến mức này?”
Cha ném cây gậy trong tay xuống, tức giận mắng lớn:
“Con tiện nhân này đã quyến rũ công t.ử phủ Kỳ Quốc công ở đâu?
“Khiến Kỳ tiểu công gia tuyệt thực, nhất quyết đòi cưới nó!”
Ta từng nghe nói tới Kỳ Dung của phủ Kỳ Quốc công.
Kỳ Dung si mê âm luật, không tiếc vung ngàn vàng mua những bản nhạc phổ độc bản.
Hắn kết giao tri âm không xét xuất thân, mặc kệ đối phương là ăn mày ghẻ lở hay kỹ nữ chốn phong trần.
Ngay cả quan gia cũng biết thiên phú âm luật của hắn cực cao, thường triệu hắn vào cung bình phẩm những khúc nhạc mới biên soạn.
Những chuyện này đều do sư phụ lúc rảnh rỗi kể cho ta nghe.
Ta chưa từng gặp Kỳ Dung.
Càng không biết vì sao hắn lại nhất quyết nhận định là ta.
Chuyện Kỳ Dung tuyệt thực cũng phải cưới trưởng nữ Ôn gia gây xôn xao khắp nơi.
Tin truyền vào cung, ngay cả nương nương và quan gia cũng bị kinh động.
Nương nương là người rất lương thiện, sau khi nghe ngóng thân thế của ta, không nhịn được mà lên tiếng nói giúp:
“Nghe nói trưởng nữ Ôn gia gảy tỳ bà rất hay.
“Ta thấy đây cũng là một mối hôn sự tốt.”
Có lời này của nương nương, phủ Kỳ Quốc công dù không tình nguyện vẫn phải bàn định hôn sự này.
Ta đứng dưới hành lang, cách một khoảng sân, nghe thấy giọng Kỳ Dung.
Giọng hắn ôn hòa nhưng kiên định, như làn gió nhẹ xuyên qua mái hiên:
“A Uẩn thiên tư xuất chúng, đời này không phải nàng thì ta không cưới.”
Sư phụ trêu rằng Kỳ Dung là người ôn hòa lễ độ, chưa từng làm trái ý phụ mẫu trong nhà.
Lần duy nhất hắn bất chấp tất cả, là vì ta.
“Sau này sẽ có người thương A Uẩn rồi.
“Cầm sắt hòa minh, cử án tề mi, đây là một mối hôn sự vô cùng tốt đẹp.”
Ta không biết phải nói gì, chỉ đỏ mặt cúi đầu nghịch chiếc chong ch.óng giấy trong tay.
Chong ch.óng giấy nhăn nhúm, dù không có gió vẫn phát ra tiếng xào xạc.
Hôn sự đã được định xuống.
Tết Thượng Tỵ đi du xuân, hai nhà Kỳ và Ôn hẹn nhau gặp mặt xem mắt.
Cách một lớp màn, Kỳ Dung đưa cho ta một phần bào loa bơ giòn.
Hắn đỏ mặt, vừa cẩn thận vừa căng thẳng, chỉ sợ làm ta hoảng sợ:
“Đây là lần đầu tiên ta mua đồ ngọt cho một cô nương.
“Không biết nàng có thích hay không.”
Ta vừa thấp thỏm vừa vui mừng, dùng hai tay nhận lấy.
Nặng trĩu, tựa như một tấm chân tình.
Ta căng thẳng giống như một tiểu thương bán hàng rong.
Vội vàng muốn bày hết những ưu điểm của mình ra, vụng về rao lên:
“Ta… ta có mang tỳ bà tới.
“Sư phụ cũng khen ta gảy hay, công t.ử có muốn nghe không…”
Kỳ Dung không nói một lời, ánh mắt càng lúc càng trầm xuống.
Nhận ra Kỳ Dung không vui, giọng nói thấp thỏm của ta càng lúc càng nhỏ:
“Ta biết làm nữ công.
“Còn biết gấp chong ch.óng giấy…”
Sau bức màn tĩnh lặng như một vũng nước c.h.ế.t, mãi đến khi tùy tùng bên cạnh cau mày:
“Có phải công t.ử nhận nhầm người rồi không?
“Tiểu nhân nhớ cô nương ngày hôm đó gan dạ hoạt bát, hình như là…”