8

Việc buôn bán ngày càng tốt.

Ta thêm một nồi, mua thêm mấy chiếc bàn, ở cửa Tây thị cũng xem như có chút danh tiếng.

Khách quen truyền miệng, nói cửa Tây thị có hai tiểu nương t.ử làm hoành thánh rất ngon, canh tươi vị đẹp, giá công bằng.

Khách mới nghe tiếng tới, ăn một lần thành khách quen.

Khách quen lại dẫn khách mới, như quả cầu tuyết càng lăn càng lớn.

Mỗi ngày trời chưa sáng chúng ta đã dậy nhóm lửa, hầm canh, băm nhân, gói hoành thánh, bận tới sau giờ ngọ mới tạm nghỉ.

Buổi chiều lại có một lượt khách, bận đến tối mới dọn.

Một ngày trôi qua, mọi người mệt đến không thẳng nổi lưng.

Nhưng lúc đếm tiền đều thấy đáng.

Dành dụm hai năm, cộng thêm tiền thêu, tính toán kỹ lưỡng, trong tay chúng ta cuối cùng có hai mươi lượng bạc.

Có hai mươi lượng, chuyện thuê cửa hàng rốt cuộc có thể nghĩ tới.

Khoảng thời gian ấy, ngày nào dọn quầy xong ta cũng đi quanh cửa Tây thị, xem nơi nào cho thuê.

Xem bảy tám chỗ, không quá đắt thì quá nhỏ, hoặc vị trí quá vắng, không có người.

Lão Chu thấy ta đi vòng, hỏi ta tìm gì.

Ta nói muốn thuê cửa hàng.

Ông nghĩ rồi bảo:

“Đi về phía tây phố xem.”

“Đầu ngõ có cửa hàng tạp hóa đóng cửa năm ngoái, cửa hàng vẫn để trống.”

“Nơi không lớn nhưng có hậu viện nhỏ, chỗ ở của các ngươi cũng có.”

Ta theo lời lão Chu tìm tới.

Cửa hàng ở đầu ngõ phố tây, cách cửa Tây thị khoảng một chén trà.

Mặt tiền chỉ rộng hơn một trượng, kẹp giữa cửa hàng lương thực và cửa hàng vải.

Phố tây không náo nhiệt bằng cửa Tây thị nhưng người qua lại không ít.

Đặc biệt sáng tối, người đi chợ, người tan làm, trẻ tan học chen kín phố.

Quan trọng nhất là có hậu viện.

Ta vòng qua ngõ hẹp bên cửa hàng, đẩy cửa gỗ hậu viện.

Cửa kêu “két”, bụi rơi lả tả.

Hậu viện không lớn, vuông vức khoảng hai trượng, lát gạch xanh, khe gạch đầy cỏ.

Sát tường có một cây hòe già, tán che nửa sân.

Ánh nắng xuyên qua kẽ lá, in một mảng vàng vụn trên đất.

Góc tường có giếng nước, thành giếng phủ rêu mỏng, nước nhìn trong veo.

Phía bắc sân có ba gian phòng nhỏ.

Một gian lớn hơn, hai gian nhỏ.

Cửa sổ đều cũ nhưng ít nhất là nhà t.ử tế, có cửa, có cửa sổ, có mái.

Tốt hơn căn nhà rách hiện tại gấp trăm lần.

Ta đứng trong sân nhìn cây hòe già, chợt nhớ cây hải đường trong nội viện Chân gia.

Mùa xuân, hoa hải đường nở trắng hồng đầy cây.

Gió thổi qua, cánh hoa rơi kín đất.

Ta đứng dưới cây cầm chổi, quét mãi không hết.

Ta vui đến cay mũi.

Ta tìm chủ nhà, một lão nhân hơn sáu mươi họ Lưu, mọi người gọi Lưu ông.

Vợ ông mất nhiều năm, con cái đều ở xa.

Cửa hàng trống hơn một năm, ông cũng lười coi sóc.

Ta hỏi giá.

Ông mở miệng sáu trăm văn một tháng.

Ta giật mình.

Sáu trăm văn, cộng thuế, dầu đèn, mỗi tháng ít nhất hơn bảy trăm.

“Lưu ông, đắt quá.”

“Người xem cửa hàng này, ván cửa thiếu, giấy cửa sổ rách, mái cũng lỏng.”

“Ta thuê còn phải tốn tiền sửa, người bớt chút.”

Lưu ông đ.á.n.h giá ta, thấy ta là tiểu nương t.ử, không làm khó.

Nghĩ hồi lâu, ông nói:

“Năm trăm năm mươi văn, không ít hơn.”

“Năm trăm văn.”

Ta giơ bàn tay.

“Ta thuê liền một năm, trả một lần.”

Lưu ông sững lại.

“Một tiểu nương t.ử như cô lấy đâu tiền một năm?”

Ta lấy túi tiền, đổ bạc ra đếm rồi đưa ông.

Ông nhận bạc, cân thử, gật đầu.

“Được.”

“Một năm, mỗi tháng năm trăm văn, trả một lần.”

“Đồ trong cửa hàng tùy cô dùng.”

“Cần sửa thì sửa, cần vá thì vá, ta không xen vào.”

Ta viết khế thuê, hai bên ấn tay.

Khi giao chìa khóa, Lưu ông nói:

“Tiểu nương t.ử, khí phách này của cô không giống người làm buôn bán nhỏ.”

Ta cười nhận chìa.

“Lưu ông nói đùa.”

“Đợi tiểu điếm khai trương, người phải thường tới ngồi, chiếu cố việc nhỏ của ta.”

Lưu ông cười ha hả, chắp tay sau lưng thong thả đi.

Ta nhìn khắp nơi, trong lòng tính toán.

Thuê cửa hàng khoảng sáu lượng bạc.

Còn sửa cửa hàng, mua bàn ghế bát đũa, sắm chăn đệm đồ dùng, ít nhất ba lượng.

Còn phải mua vải cho bốn người mỗi người hai bộ áo mới.

Lại mua vải bông mềm, mỗi người một bộ đồ ngủ.

Bạc còn lại phải giữ quay vòng, mua thịt, bột, gia vị, không thể tiêu hết.

9

Cửa hàng sửa hơn nửa tháng, cuối cùng ra dáng.

Ván cửa vá xong, quét một lớp dầu trẩu vàng óng, lộ vân gỗ.

Giấy cửa sổ thay mới, dán kín, gió không lọt.

Ngói mái bổ sung, ngày mưa lớn cũng không sợ dột.

Cỏ trong sân nhổ sạch.

Nền gạch xanh xối nước ba lần, lộ màu vốn có.

Giếng đã nạo, nước trong, múc lên nếm có vị ngọt.

Ba gian phòng, gian lớn cho Chân phu nhân và Noãn Nhi.

Một gian nhỏ cho Đại tiểu thư.

Gian nhỏ nhất ta ở.

Noãn Nhi lần đầu thấy giường riêng, vui đến lăn bảy tám vòng.

Lăn rồi ngủ luôn.

Trước cửa treo biển, vẫn do lão Chu viết.

Ngày khai trương, lão Chu tặng một đôi câu đối dán hai bên cửa.

Vế trên viết: “Một bát hỗn độn giấu nhật nguyệt.”

Vế dưới viết: “Nửa thìa thanh canh nấu càn khôn.”

Chữ hay, câu cũng hay, chỉ là “hoành thánh” bị viết thành “hỗn độn”.

Trương lão tam thấy cười đến không đứng thẳng nổi.

Nói lão Chu trình độ gì vậy.

Lão Chu trừng ông:

“Ngươi biết gì?”

“Hỗn độn sơ khai, càn khôn mới định, đây là thâm ý.”

Trương lão tam không biết chữ, bị dọa sững, liên tục gật đầu.

Ta cười treo câu đối lên.

Ngày đầu khai trương, người tới không ít.

Khách quen nghe Ôn nương t.ử mở cửa hàng đều tới ủng hộ.

Trương lão tam tặng năm cân bột.

Vương đại tẩu tặng một giỏ trứng.

Ngay cả Triệu lão hán bán kẹo hồ lô cũng đưa mấy gói sơn tra.

“Cho Noãn Nhi ăn vặt.”

Tiểu thương cửa Tây thị ngày thường ai làm việc nấy, ở lâu cũng có tình.

Trong cửa hàng đặt bốn bàn, mỗi bàn ngồi bốn người.

Bàn sát cửa sổ là chỗ tốt nhất, nhìn được người ngoài phố.

Noãn Nhi thích nhất nằm lên đó xem cảnh đường.

Bếp xây trong cùng, sát cửa hậu viện để khói dầu đi ra sau, không hun khách.

Trên bếp có hai nồi lớn.

Một nồi hầm canh, một nồi nấu hoành thánh.

Nồi nước xương sôi từ sáng đến tối.

Nước trắng sữa sôi ùng ục, hương bay nửa phố.

Buôn bán ngày càng tốt.

Phố tây không náo nhiệt bằng cửa Tây thị nhưng ổn định.

Xung quanh là dân thường.

Sáng trước khi đi làm, họ ăn một bát nóng, cả ngày có sức.

Trưa, tiểu nhị cửa hàng gần đó ăn một bát, rẻ lại no.

Tối tan việc, có người lười nấu cũng tới ăn.

Một ngày ít nhất bán hai trăm bát.

Bốn người phân công ngày càng rõ.

Ta gói và nấu hoành thánh.

Đại tiểu thư tiếp khách, tính sổ thu tiền.

Nàng nói nhẹ nhàng, khách đều thích.

Chân phu nhân hầm canh, chuẩn bị nguyên liệu, trông Noãn Nhi.

Noãn Nhi phụ trách ăn và chơi, đôi khi đưa thìa, nói cười giúp mọi người vui.

Ngày tháng chậm rãi trôi như nước sông Biện, bình lặng và yên ổn.

Nhưng mở cửa làm ăn, khách ba giáo chín dòng đều có.

Phần lớn là người tốt, tới ăn bát hoành thánh, trả tiền rồi đi, khách khí.

Nhưng luôn có người không đặt tâm tư vào hoành thánh.

Đại tiểu thư nay càng lớn càng đẹp.

Buổi chiều thu, vừa qua giờ đông khách, cửa hàng không nhiều người.

Nàng đứng sau quầy tính sổ, cúi đầu gảy bàn tính, miệng lẩm nhẩm.

Hôm nay nàng mặc váy vải xanh nước, càng tôn da trắng.

Tóc cài bằng trâm gỗ, vài sợi rủ bên tai, dưới nắng phát ánh dịu.

Một nam nhân trung niên ăn xong không đi, ngồi nhìn đông nhìn tây.

Đại tiểu thư tới dọn bát, hắn đưa tay kéo tay áo nàng.

“Tiểu nương t.ử, cô đẹp thật, hơn mụ vợ mặt vàng nhà ta nhiều.”

Mặt nàng đỏ bừng, vừa giận vừa sợ.

6 - Biện Lương Hoành Thánh Ký - Đọc truyện ngôn tình tổng tài bá đạo miễn phí | Lão Phật Gia