Ta cười, đồng ý với nàng.

Đến chiều ngày thứ bảy, chúng ta tới một thôn nhỏ tên Thạch Kiều Loan. Đầu thôn quả nhiên có một cây cầu đá, dòng sông bên dưới đóng băng thành một vệt trắng. Một bà lão chống gậy đứng đợi giữa nền tuyết. Thấy đoàn xe đến, bà liền muốn quỳ xuống.

Ta vội đỡ lấy bà.

Bà nắm tay ta, lòng bàn tay thô ráp cọ qua mu bàn tay ta. “Điện hạ, con trai lão ở doanh Vân Tắc. Năm ngoái nó gửi thư về, nói nơi nó canh giữ gió rất lớn. Lão vẫn luôn muốn hỏi nó, nơi gió lớn có lạnh lắm không.”

Cổ họng ta nghẹn lại, khẽ đáp: “Lạnh. Nhưng trong quân có áo bông. Đợi tuyết tan, ta sẽ sai người gửi thư cho nó, nói rằng thân thể bà vẫn khỏe, bảo nó yên tâm.”

Bà lão liên tục gật đầu, vừa cười vừa lau nước mắt.

Đêm ấy, người trong thôn dành căn nhà sạch sẽ nhất cho ta nghỉ. Ta nằm trên chiếc giường đất cứng ngắc, nghe bên ngoài có người bổ củi, lại nghe tiếng trẻ con chia nhau những miếng bánh gạo vừa nhận được.

Ta nhớ khi còn ở trong cung, ta từng chê bánh gạo của Ngự Thiện Phòng quá ngọt, mới ăn một miếng đã đặt xuống. Vậy mà giờ đây, nghe tiếng cười của những đứa trẻ ấy, ta lại cảm thấy còn dễ nghe hơn cả tiếng đàn sáo trong yến tiệc cung đình.

Trước khi đội xe lương rời Thạch Kiều Loan, một bé gái tên A Mãn đuổi theo xe ngựa suốt một quãng đường dài. Đế giày của con bé đã mòn rách, chân quấn hai lớp vải cũ, nhưng trong lòng lại ôm một quyển “Thiên Tự Văn” sờn góc.

Con bé giơ quyển sách lên trước cửa sổ xe, thở hổn hển đến mức không nói được thành câu.

Ta bảo người dừng xe, rồi ngồi xổm xuống trước mặt con bé.

“Công chúa tỷ tỷ, cha muội nói năm nay nhà muội phải trả lương trước, không cho muội đến trấn học nữa.” Con bé mím môi, đôi mắt tràn đầy vẻ bướng bỉnh. “Nhưng muội đã thuộc được rất nhiều chữ rồi. Sau này muội còn có thể đi học nữa không?”

Phụ thân con bé đứng cách đó không xa, mặt đỏ bừng. Ông muốn bước tới nhưng lại không dám. Ông là một thợ mộc bị què chân, năm ngoái ngã từ mái nhà xuống khi sửa nóc, từ đó cả nhà chỉ dựa vào việc vợ ông dệt t.h.ả.m để sống. Khi thôn vay lương, ông đã điểm chỉ lên văn thư, trong lòng vẫn luôn canh cánh, cho rằng tiếp tục cho con gái đi học là chuyện xa xỉ.

Ta nhận lấy quyển sách cũ, lật đến giữa. Bên trong kẹp mấy cánh hoa dại đã được ép phẳng, bên cạnh còn có những dòng chú thích nguệch ngoạc.

“Muội tên gì?”

“A Mãn.”

“A Mãn, lương thực là cho nhà muội vay để qua mùa đông, không phải dùng để đổi lấy việc muội được đi học.” Ta trả sách lại cho con bé: “Đợi trời ấm lên, trường nghĩa học trong trấn sẽ mở cửa lại. Muội mang quyển sách này đến đó. Nếu tiên sinh không nhận muội thì cứ nói là ta bảo muội đến.”

Con bé mở to mắt.

Phụ thân con bé vội quỳ xuống. Ta đưa tay đỡ ông dậy. “Ông có tay nghề. Đợi mùa xuân, khi sửa xong guồng nước trong thôn, mọi người đều sẽ ghi nhận công sức của ông. Khoản lương vay cứ từ từ trả, nhưng việc học của đứa trẻ không thể dừng lại.”

Trở về dịch quán, ta cầm b.út viết thư cho phụ hoàng, kể cả chuyện của A Mãn vào trong.

Dáng vẻ A Mãn ôm quyển sách cũ đứng giữa tuyết cứ hiện lên trước mắt ta. Nếu nhà con bé có thể chống đỡ qua mùa đông này, sang năm con bé sẽ có cơ hội bước chân vào trường học lần nữa. Còn nếu không thể, quyển “Thiên Tự Văn” ấy chỉ có thể theo con bé trở về căn phòng chứa củi. Những đứa trẻ như vậy, ở An Châu không chỉ có một.

Mấy ngày sau, thư hồi âm của phụ hoàng được gửi đến. Người không viết nhiều, chỉ phê hai chữ bên cạnh bản điều lệ ta trình lên: “Chuẩn nghị.”

Hai chữ ấy khiến ta ngồi dưới đèn rất lâu.

Ngay sau đó, ta mời chủ bạ cũ của An Châu, sơn trưởng thư viện và mấy thương nhân bằng lòng góp vốn đến cùng bàn bạc quy định về kho lương của trường nghĩa học. Thương nhân lo có người vay lương không trả; sơn trưởng lo danh ngạch bị nhà giàu chiếm mất; chủ bạ lại lo quan địa phương làm sai sổ sách.

Ta trải giấy ra, cùng họ định rõ từng điều một.

Học trò vay lương phải được lý chính và tiên sinh cùng xác minh. Nhà nào thật sự khó khăn thì được nhận trước lương thô và áo rét; nhà nào còn dư sức thì có thể dùng việc sửa kênh, dạy chữ cho trẻ nhỏ hoặc sao chép văn thư để bù lại một phần.

Sổ sách mỗi tháng đều phải dán trước cổng trường nghĩa học. Nhà nào nhận bao nhiêu, đã làm những việc gì, tất cả đều phải ghi rõ ràng.

Trong thư Mộ Thanh Huy gửi đến, huynh ấy nói đã bàn bạc với mấy người đồng niên, định ngày nghỉ sẽ đến trường nghĩa học giảng bài. Cuối thư, huynh ấy còn vẽ một con mèo nhe nanh múa vuốt, nói đó là con mèo mới nuôi ở hiệu t.h.u.ố.c, rất thích giẫm lên bài văn của huynh ấy.

Ta đọc mà bật cười, hồi âm bảo huynh ấy trông mèo cho cẩn thận, đừng để nó cào rách danh sách vay lương.

Những chuyện vụn vặt ấy chiếm mất của ta rất nhiều ngày. Trong khoảng thời gian đó, thư của Lê Nghiễn cũng được gửi tới. Chàng viết rằng sau khi xuân đến, có mấy đứa trẻ ở Vân Tắc theo quân sĩ học chữ; Ô Lực đã biết viết tên mình, còn vẽ trên giấy một con ngựa có đôi chân dài đến mức kỳ quặc.

Ta đặt thư bên cạnh ngọn nến để hong khô, rồi tìm một tờ giấy sạch, cẩn thận viết lại tình hình trường nghĩa học ở An Châu. Khi viết đến chuyện A Mãn, ngoài cửa sổ bỗng vang lên một tiếng sấm xuân. Nước mưa nơi góc mái bị gió thổi tạt lên giấy cửa sổ, để lại những vệt ẩm li ti.

8

Đầu xuân, ta trở về kinh thành.

Phụ hoàng đứng đợi ta trên cổng thành. Từ xa trông thấy đoàn xe, sắc mặt người đã rất khó coi. Đợi ta đến gần, người nhìn ta từ đầu đến chân, xác nhận ta không bị thương mới giơ tay gõ nhẹ lên trán ta một cái.

07 - Chàng Chưa Từng Hối Hận Vì Cứu Ta - Đọc truyện ngôn tình tổng tài bá đạo miễn phí | Lão Phật Gia