Mẹ ta nghe xong cũng chẳng tức giận, chỉ nhẹ nhàng đẩy một đĩa bánh hoa quế đến trước mặt ta.
“A Đường, con muốn ăn miếng nào?”
Ta nhìn một lượt rồi chọn miếng tròn nhất.
Bà liền bưng cả đĩa tới trước mặt ta, sau đó mới quay sang nói với quản gia:
“Về nói với Thẩm đại nhân, thanh danh của hắn là do chính hắn sống mà có, không phải ta cầm kim chỉ may vá cho hắn, trong vòng ba ngày nếu hắn còn không ký, ta sẽ mang những lá thư hắn viết cho A Hành tới Thuận Thiên phủ, nhờ phủ doãn phân xử xem Thám hoa lang lén lút gặp biểu muội trong thời gian chịu tang có được tính là biết đại thể hay không.”
Sắc mặt quản gia lập tức giống hệt một chiếc màn thầu hấp hỏng, trắng trong lẫn xám, khó coi vô cùng.
Cô mẫu của cha ta qua đời chưa đầy một năm.
A Hành lại là cháu gái ruột của bà ấy, những bức thư tình mà cha ta viết trong thời gian chịu tang nếu thật sự truyền ra ngoài, tấu chương của Ngự sử đài e rằng đủ để đè bẹp chiếc mũ quan ông vừa mới đội lên đầu.
Chuyện ấy thật ra mẹ ta đã biết từ rất lâu.
Lần đầu tiên A Hành đến phủ, bà đã ngửi thấy trên tay áo cô nương ấy mùi trầm thủy hương mà cha ta vẫn thường dùng.
Khi ấy bà không lập tức phát tác, chỉ âm thầm dặn Thanh Hạnh lưu ý nhiều hơn.
Sau này Thanh Hạnh quả thật tìm được hơn mười phong thư trong một chiếc hộp cũ ở thư phòng, lời lẽ bên trong sướt mướt đến mức nghe thôi cũng khiến người ta ê cả răng.
Ta nhận ra được một câu trong đó:
“Nguyện đổi nửa đời thanh vân của ta, chỉ mong mày nàng mãi giãn.”
Ta đọc mãi vẫn chẳng hiểu, bèn mang đi hỏi mẹ xem câu ấy có nghĩa gì.
Mẹ ta tiện tay ném lá thư vào chậu than, ngọn lửa đỏ chậm rãi l.i.ế.m qua từng nét chữ của cha.
“Ý là tiền đồ thanh vân của hắn chẳng đáng tiền, ai muốn lấy đi đổi cũng được.”
Đến chiều ngày thứ ba, cha ta cuối cùng cũng trở về.
Lúc bước vào cửa, sắc mặt ông đầy vẻ mỏi mệt, nom như vừa bị ai đó rút sạch xương cốt khỏi người.
Ông ngồi xuống đối diện mẹ ta, im lặng thật lâu mới cất tiếng hỏi:
“Nàng nhất định phải đi sao?”
Mẹ ta vẫn đang cúi đầu tính sổ sách của những cửa hàng nằm trong của hồi môn, ngay cả mắt cũng chẳng buồn ngẩng lên.
“Phải.”
“A Đường còn nhỏ.”
“Con bé theo ta.”
“Nàng mang theo nó, sau này còn có thể gả cho ai?”
Nghe đến đó, ta đặt con ngựa gỗ trong tay xuống mặt bàn.
“Mẹ con vừa đẹp vừa có tiền, muốn gả cho ai thì gả người đó, cha cứ quản cho tốt A Hành nương t.ử của cha trước đi, đừng để nàng ấy ăn cơm nhà con.”
Cha ta bị ta chặn họng đến mức ho khan mấy tiếng.
Ông nhìn ta thật lâu, đáy mắt vừa có tức giận, vừa có một chút khó xử chẳng thể nói thành lời.
Mẹ ta lúc ấy mới chậm rãi ngẩng đầu, đặt một tờ danh sách trước mặt ông.
“Đây là những thứ hồi môn ta sẽ mang đi, điền trang, cửa hàng, vàng bạc vật dụng, cứ đối chiếu với danh sách năm ấy khi ta vào phủ mà kiểm lại cho đủ.”
Bà lại nói tiếp:
“Ba nghìn lạng bạc chàng từng mượn để lo liệu quan hệ với đồng niên cũng lấy từ tư khố của chàng mà bù vào.”
Cha ta cau mày.
“Phu thê vốn là một thể, cần gì phải tính toán rạch ròi đến mức ấy?”
Mẹ ta khẽ nhướng mắt.
“Lúc chàng muốn nạp bình thê, sao không nhớ tới bốn chữ phu thê một thể?”
Những hạt bàn tính dưới ngón tay bà va vào nhau, phát ra tiếng lanh canh thanh thúy.
“Chàng thích nói tình nghĩa, còn ta thích tính sổ, mỗi người làm việc mình giỏi, như vậy lại bớt phiền.”
Cuối cùng, cha ta vẫn phải ấn dấu tay.
Khoảnh khắc ngón tay ông đè xuống mặt giấy, đầu ngón tay dùng sức đến trắng bệch.
Mẹ ta cầm hòa ly thư lên, nhẹ nhàng thổi dấu chu sa còn chưa khô, động tác thản nhiên giống như đang thổi đi một hạt bụi nhỏ vừa rơi xuống tay áo.
Ngày chúng ta chuyển khỏi Thẩm phủ, A Hành đứng dưới hành lang nhìn theo.
Nàng mặc một bộ váy đỏ hạnh mới may, trên tóc còn cài cây trâm vàng ròng có tua rủ mà trước kia mẹ ta yêu thích nhất.
Ta ngẩng đầu nhìn nàng rồi hỏi:
“Cây trâm ấy là của mẹ ta, ngươi trộm phải không?”
Sắc mặt A Hành lập tức thay đổi, bàn tay vội vàng đưa lên giữ lấy tóc mai.
Mẹ kéo ta trở lại, chỉ mỉm cười nói:
“Không cần hỏi, trong sổ đều đã ghi rõ, nàng lấy đi thứ gì thì rồi cũng sẽ có người thay nàng trả lại.”
Bà nắm lấy tay ta, dẫn ta từng bước bước qua đại môn Thẩm phủ, từ đầu đến cuối không hề ngoảnh đầu nhìn lại một lần.
Dung gia là Hầu phủ, sân viện rộng lớn hơn Thẩm gia rất nhiều, thế nhưng chuyển vào đó rồi, ta lại chẳng vui vẻ được bao nhiêu ngày.
Cữu mẫu Diêu thị là một người rất thích cười.
Mỗi lần gặp ta, bà đều cầm khăn tay, miệng không ngừng khen ta ngoan ngoãn đáng yêu, nhưng chỉ cần quay đầu một cái liền bảo nha hoàn mang chiếc chén ta vừa dùng đi, còn nói trẻ nhỏ tay chân không biết nặng nhẹ, chớ để ta vô tình làm sứt mẻ đồ sứ quý của bà.
Mẹ ta nghe được chuyện ấy, ngay tối hôm đó liền bảo Thanh Hạnh chuyển đồ của hai mẹ con từ tiền viện sang Thính Vũ cư phía tây.
Thính Vũ cư nằm ở nơi khá hẻo lánh, bên chân tường mọc một cây hải đường thân cong, đến những ngày mưa lớn, mái nhà còn bị dột nước.
Cữu mẫu cho rằng mẹ ta đã nhịn xuống, ngày hôm sau còn cố ý sai người đưa tới hai cây đoạn đã mốc.
Mẹ đưa tay sờ thử mặt vải, chẳng nói gì nhiều, chỉ bảo người trải chúng xuống đất.
“A Đường, ngày mai con mang những thứ này đi cho các biểu ca biểu tỷ giẫm bùn.”
Ta lập tức vui vẻ hỏi:
“Thật sao?”
“Thật chứ, nếu cữu mẫu đã nói đây là thứ đặc biệt tặng cho con, vậy đương nhiên phải dùng vào việc của con.”