Đến cổng Công viên Dệt Bông, từ xa đã thấy dưới cây ngô đồng có một vòng người ngồi.
Ghế đẩu nhỏ, ghế nhựa, ghế gấp đủ loại vây thành vòng.
Giữa là một bàn gấp đặt bàn cờ.
Hai ông cụ ngồi đối diện đ.á.n.h cờ.
Người đứng xem còn đông gấp đôi người chơi.
Bên ghế đá cạnh bóng cây có ba bà cụ.
Một người đan len.
Một người ôm cốc men uống trà.
Người còn lại cúi đầu tách đậu edamame, vỏ đậu vứt vào túi nhựa dưới chân.
Khi tôi đi tới, bà cụ tách đậu ngẩng đầu trước.
Bà nheo mắt nhìn tôi mấy giây.
Vỏ đậu trong tay “bộp” một cái rơi lên đùi.
“Tú Phương?”
Tôi đáp một tiếng.
Bà đặt đậu vào túi, chống đầu gối đứng dậy.
Đi đến trước mặt nhìn tôi từ trên xuống dưới.
Bà thấp hơn tôi nửa đầu.
Lúc ngẩng lên, nếp nhăn ở khóe mắt xếp thành mấy tầng.
“Là Tú Phương, không sai.”
“Nốt ruồi của cô vẫn còn…”
Bà chỉ đuôi lông mày bên phải của mình.
“Ở đây.”
“Năm đó ca đêm cô hay đứng dưới cây ngô đồng chờ người mang đồ ăn khuya.”
“Tôi nhìn bóng cây là nhận ra cô.”
Mắt bà hơi đỏ.
Nhưng giọng vẫn lớn như thời ở phân xưởng nhà máy.
“Cuối cùng cô cũng quay lại.”
“Ngày đó cô chuyển đi chẳng để lại địa chỉ.”
“Chúng tôi tìm cô mấy năm.”
Bà cụ đang đan len cũng đặt kim xuống đứng lên.
Người ôm cốc men ngẩng đầu nhìn rồi cười.
“Chị Tú Phương, lúc chị đi Lâm Việt bao lớn?”
“Chắc giờ học đại học rồi?”
“Học rồi, học rồi.”
Tôi cười.
“Giờ đi làm rồi.”
“Lâm Việt đâu?”
Bà đang tách đậu nhìn ra sau tôi.
“Thằng nhóc đó hồi ấy chạy điên khắp khu nhà máy, giẫm đổ cả chậu hẹ nhà tôi.”
“Tôi đuổi nửa con phố cũng không bắt được.”
Tôi bước sang bên.
Lâm Việt từ sau cây ngô đồng đi ra.
Vừa rồi nó luôn đứng tựa thân cây trong bóng râm, không lên tiếng.
Bây giờ bước ra.
Giày canvas giẫm lá khô sột soạt.
Nó đứng trước mặt bà cụ, cúi người.
Độ cong giống như cúi chào, nhưng chưa cúi hết, cứ giữ vậy.
“Dì Lưu.”
Nó gọi.
“Năm con giẫm đổ chậu hẹ của dì là lúc 8 tuổi.”
“Sau đó con còn trồng lại cho dì một chậu, đặt trên bậu cửa nhà mình.”
“Mọc còn cao hơn chậu cũ.”
Dì Lưu sững một giây rồi vỗ bốp vào cánh tay nó.
“Thằng nhóc thối!”
“Lớn cao thế này rồi!”
“Chậu hẹ đó sau này mẹ cháu xào trứng cho cháu ăn, tưởng dì không biết à?”
Lâm Việt bị vỗ lùi nửa bước.
Nhưng trên mặt lại cười.
Chiếc răng nanh lộ ra.
Mày mắt cong cong.
Giống hệt hồi nhỏ nhảy từ cây ngô đồng xuống ngã ngồi bệt rồi bị dì Lưu xách tai mắng.
Chỉ là cao hơn, vai rộng hơn.
Bà cụ ôm cốc men đứng lên.
Đặt cốc lên ghế đá rồi tới trước mặt nắm tay tôi.
Lòng bàn tay bà thô ráp, các khớp ngón tay hơi biến dạng vì lúc trẻ thường bê suốt chỉ trong phân xưởng.
Bà kéo tôi ngồi xuống ghế đá, mình cũng ngồi sát cạnh.
“Tú Phương, cô biết cây quế hoa kia ai trồng không?”
Bà hất cằm về phía đông công viên.
Tôi nhìn theo.
Ở vị trí căng tin nhà máy cũ quả thật có một cây quế hoa.
Cành lá xum xuê, bóng râm phủ một khoảng nhỏ.
“Không biết.”
“Là lão Chu trồng vào mùa thu năm đó.”
Giọng bà hạ xuống.
Mấy bà cụ xung quanh cũng im lặng.
Người đan len đặt kim lên đầu gối, nhìn cây quế hoa.
“Năm đó ông ấy mua khu đất nhà máy.”
“Việc đầu tiên là trồng cây này.”
“Trồng xong mới sửa đường, lắp đèn.”
“Chúng tôi hỏi sao lại trồng ở đây.”
“Ông ấy nói năm đó cứ mỗi mùa thu tan ca đêm, cô đều vòng đường qua cửa căng tin nhà máy để ngửi mùi quế hoa rồi mới về khu tập thể.”
Ngón tay đang nắm quai cốc men của tôi siết lại.
Thành cốc âm ấm.
Là nước nóng dì Lưu vừa rót thêm.
“Lão Chu ấy à…”
Dì Lưu lại ngồi xuống ghế thấp, xoa hai cây kim đan trong tay.
“Người già nhà máy chúng tôi đều biết ông ấy.”
“Ông ấy từng tới hỏi chuyện về cô.”
“Không chỉ một hai lần.”
“Có lần ngồi dưới cây ngô đồng này, hỏi tôi ngày năm đó cô bế Lâm Việt từ ga về mặc quần áo gì.”
“Tôi nói tôi nào nhớ.”
“Ông ấy lại hỏi hôm cô bế đứa trẻ ấy có mưa không.”
“Tôi nói hình như không.”
“Ông ấy nói vậy thì tốt.”
Bên bàn cờ, một ông cụ đặt quân pháo xuống, “bộp” một tiếng.
Lá cây quế hoa bị gió thổi lật mặt xào xạc.
Mặt dưới xanh nhạt chớp sáng dưới nắng.
Lâm Việt ngồi xổm bên cạnh tôi, khuỷu tay đặt trên đầu gối.
Nó cúi đầu nhìn những cánh hoa hồng dưới đất.
Một lúc lâu mới nói:
“Mọi người đều nhìn mẹ cháu và cháu sống ở nhà máy từ hồi cháu còn nhỏ.”
“Hôm nay cháu đến là muốn nói một chuyện.”
Các bà cụ đều nhìn nó.
Kim đan trong tay dì Lưu dừng lại.
“Chu Sùng Sơn để lại một khoản tiền cho mẹ cháu.”
“Chúng cháu đã bàn rồi.”
“Sẽ dùng số tiền này xây một phòng sinh hoạt trên mảnh đất này.”
“Công nhân cũ của nhà máy nghỉ hưu rồi đều có thể tới.”
“Mùa đông có sưởi, mùa hè có quạt.”
“Trên tường treo một bảng đen.”
“Muốn chơi bài thì chơi bài, muốn viết chữ thì viết chữ.”
Một cây kim trong tay dì Lưu rơi xuống đùi.
Khi cúi nhặt, tôi thấy tay bà run.
Bà cụ ôm cốc men bỗng khàn giọng.
Uống một ngụm nước mới nói được:
“Tú Phương, đứa trẻ này của cô… không nuôi uổng.”
Lâm Việt vẫn ngồi xổm.
Nó nghiêng đầu nhìn tôi một lần.
Ánh mắt dưới bóng cây sáng lạ thường.
Đường nhăn mảnh nơi khóe mắt được ánh nắng chiếu vào, giống sợi chỉ bị gió uốn cong.
“Cháu thay mẹ cảm ơn mọi người.”
Nó nói.
Đúng lúc câu ấy vừa dứt, gió mạnh lên.
Cây quế hoa rung đầy lá.
Tiếng xào xạc giống mưa.
Tôi cầm cốc men ngồi trên ghế đá.
Trong lòng bàn tay là một khối ấm áp dễ chịu.
Dì Lưu nhặt kim lên tiếp tục đan.
Đan hai mũi rồi ngẩng đầu cười với tôi.
Nếp nhăn khóe mắt xếp lại, giống hệt nụ cười hơn 20 năm trước khi bà từ cửa sổ đưa sang bát thịt kho.