Lục Nghiễn Chu nghe tiếng chạy tới, chắn trước mặt ta.
“Mẫu thân, đây là thư phòng của phụ thân, bên trong có công văn triều đình!”
“Vậy con cứ đi báo quan, nói ta xông vào căn phòng được xây bằng bạc hồi môn của ta.”
Sắc mặt hắn lúc xanh lúc trắng.
Ta đẩy cửa bước vào.
Trên bàn đang trải bản thảo Lục Thừa Giản chuẩn bị đem dự bình mẫu.
Đường nước, tỷ lệ gai, cách phơi vải trên đó đều chép từ ghi chép cũ của ta.
Đến cả hai chữ “ba lần hấp” ta từng viết sai rồi gạch bỏ năm xưa, hắn cũng chép nguyên không sót.
Ta bật cười thành tiếng.
Lục Thừa Giản vội trở về khi ta đang gấp bản thảo cất vào tay áo.
Hắn chặn ở cửa.
“Để đồ lại.”
“Ngươi cũng biết đồ trộm được thì sợ người khác lấy đi sao?”
Gương mặt vốn luôn đoan chính của hắn rốt cuộc cũng nứt ra một kẽ.
“Vải dùng cho kho quan liên quan đến dân sinh.”
“Nàng là một phụ nhân nội trạch, biết dệt nhưng không biết làm thế nào đưa thứ ấy vào quan phủ.”
“Không có ta, những mẫu vải của nàng chỉ có thể mục trong rương.”
Ta đi tới trước mặt hắn.
“Không có ta, ngươi đến chữ chép sai còn chẳng hiểu vì sao sai.”
Hắn giơ tay, những người hồi môn sau lưng ta đồng loạt bước lên một bước.
Hắn nhìn cánh cửa viện đang mở rộng, cuối cùng vẫn hạ tay xuống.
Ta cho người dọn sạch khỏi thư phòng những sổ sách, mẫu vải và ấn chương thuộc về ta.
Trước khi đi, ta quay lại nói với hắn: “Trong hòa ly thư, thêm một điều nữa.”
“Tên tuổi và lợi ích của Cẩm Vân phường, từ nay đều không liên quan đến ngươi.”
Sáng sớm hôm sau, ta dọn khỏi Lục phủ.
Không khóc lóc, cũng không chờ ai níu giữ.
Tám chiếc xe chở sổ hồi môn và quần áo vật dụng thường ngày, những thứ còn lại chưa kiểm kê xong đều được ghi vào danh sách, giao cho Kinh Triệu phủ lập hồ sơ.
Lục Tri Vi đứng bên trong cổng, nhìn đoàn xe của ta.
“Mẫu thân thật sự muốn đi?”
“Nếu Văn gia lui hôn, người sẽ vừa lòng sao?”
Ta vén rèm xe.
“Nếu Văn gia chỉ vì phụ mẫu con hòa ly mà lui hôn, vậy thì mối hôn sự ấy vốn chẳng chịu nổi một trận gió.”
“Nếu vì hồi môn ít đi mà lui hôn, con lại càng nên mừng.”
Nàng c.ắ.n môi.
“Người nói thì nhẹ nhàng.”
“Kẻ bị người ta chỉ trỏ là con.”
“Lúc mở hộp của ta, con đã tự chọn rồi.”
“Văn gia muốn hỏi, con tự mình trả lời.”
Lục Nghiễn Chu từ phía sau đi tới, đưa cho ta một tờ danh sách tiệc.
“Trần học sĩ đã nhận lời, tiệc không thể hủy.”
“Mẫu thân cứ lo xong bữa tiệc trước, chuyện trong nhà để sau hãy nói.”
Ta liếc qua.
Bữa tiệc ấy cần sáu mươi hai lượng bạc, ngay cả rượu cũng mua chịu từ cửa hàng của ta.
Ta xé tờ danh sách làm đôi.
“Con đã hai mươi hai tuổi.”
“Khách mình mời mà không đãi nổi thì đừng mời.”
Bánh xe lăn qua bậc cửa, tấm biển Lục gia dần khuất lại phía sau.
Ta không trở về nhà cũ Khương gia.
Căn nhà ấy đã bán khi phụ thân bệnh nặng, một nửa số bạc dùng để bù khoản thiếu hụt lúc Lục Thừa Giản đi nhậm chức, một nửa dùng mời tiên sinh cho Lục Nghiễn Chu.
Bao năm qua, ai cũng lấy chuyện ấy nhắc ta rằng ta không còn nơi nào để đi.
Ta tới Cẩm Vân phường.
Cửa hàng khép hờ, lớp sơn vàng trên biển hiệu bong mất một góc.
Chưởng quầy thấy ta tới liền tránh ánh mắt, nói mấy ngày nay nhận được lời nhắn của lão gia rằng đông gia sắp đổi thành Tống nương t.ử.
Ta đặt khế đất lên quầy.
“Cửa hàng là hồi môn của mẫu thân ta, trên khế chỉ có ấn của Khương gia.”
“Ai nói đổi đông gia thì bảo người đó mang khế tới.”
Chưởng quầy cúi đầu không nói.
Phía hậu đường có người vén rèm vải bước ra.
Mạnh Hoài Chân ôm một cây vải xanh, tay vẫn còn dính màu chàm.
Nàng là đồng song của ta khi chưa xuất giá, sau này tiếp quản xưởng nhuộm của nhà chồng.
Trượng phu mất sớm, nàng không ôm bài vị khóc lóc, mà trả sạch nợ, dẫn hai học đồ đưa xưởng nhuộm làm ăn tới tận kinh thành.
Sau khi thành thân, Lục Thừa Giản chê nàng suốt ngày xuất đầu lộ diện nên không cho ta qua lại nhiều với nàng.
Mạnh Hoài Chân ném cây vải lên quầy.
“Sợi dọc của cây vải này lỏng, hồ cũng mỏng.”
“Ngươi mà tới chậm thêm nửa năm, biển hiệu Cẩm Vân phường có thể đem chẻ làm củi rồi.”
Ta hỏi: “Sao ngươi ở đây?”
“Thợ dệt lâu năm trong cửa hàng ngươi tìm ta, nói có người cầm hoa văn hồi lãng của ngươi đi khắp nơi hỏi giá.”
“Ta tới xem kẻ nào chán sống.”
Nàng nhìn thấy những chiếc rương trên xe, không hỏi thêm gì, chỉ ném cho ta một chùm chìa khóa.
“Ba gian phòng hậu viện đang trống.”
“Tiền thuê theo giá thị trường, trả trước một tháng.”
Ta đón lấy chìa khóa.
“Không bớt một đồng?”
“Giao tình là giao tình, sổ sách phải rõ.”
“Vậy càng tốt.”
Ngay chiều hôm ấy, ta thay chưởng quầy vẫn nghe lệnh Lục Thừa Giản, kiểm kê vải tồn rồi dán cáo thị tuyển người.
Nhiều năm không tự đứng trước khung cửi, nhưng tay ta vẫn nhớ được độ nặng nhẹ của sợi.
Thoi dệt xuyên qua sợi dọc phát ra tiếng va thanh thúy.
Ta chỉ ngồi một khắc đã nhận ra trục máy cũ lệch nửa tấc.
Mạnh Hoài Chân tựa cửa nhìn ta.
“Vẫn còn biết làm sao?”
“Thứ đã biết rồi không dễ bị người khác cướp mất đến thế.”
Ta bảo người tháo máy sửa trục, lại viết thư cho khách buôn cũ ở Lễ Châu và phương Bắc.
Trước lúc trời tối, hồi âm đầu tiên đã tới, nói họ bằng lòng đặt trước năm mươi cây vải chống ẩm, nhưng mười ngày sau phải nghiệm hàng.
Ta thu bạc đặt cọc vào sổ mới.
Ngày đầu tiên rời Lục phủ, bạc ta kiếm được không nhiều, nhưng từng đồng từng cắc đều viết tên ta.
Ngày thứ ba, Lục Thừa Giản vẫn chưa đưa hòa ly thư tới, Lục gia lại gửi tới trước một chồng giấy nợ.
Chưởng quầy t.ửu lâu, tiểu nhị tiệm tơ lụa, quản sự xa mã xếp hàng ngoài cửa Cẩm Vân phường, đều nói Lục phủ bảo họ tới tìm ta thanh toán.
Ta xem từng tờ, hai khoản có tư ấn của ta thì trả, những khoản còn lại đều trả về.
Chưởng quầy t.ửu lâu khó xử.
“Lục công t.ử mở tiệc mời người Hàn Lâm viện, món ăn đã chuẩn bị xong.”
“Nếu không thanh toán, tiểu điếm chỉ có thể tới trước cửa phủ đòi tiền.”
“Cứ đi.”