Sáng thứ Hai, sư phó điện nước của khoa điện đến đúng hẹn. Kiều Vi vẫn luôn chờ ông ấy. Nghiêm Lỗi đã cố ý dặn dò Kiều Vi về một ít quy tắc ngầm mang tính mặc định thời bấy giờ. Chờ lúc sư phó đến, nước trà t.h.u.ố.c lá Kiều Vi đều đã chuẩn bị sẵn cho ông.
Một số ngành nghề ở đời sau vốn bình thường nhất nhưng ở lúc này lại cực kỳ quý giá. Ví dụ như thợ điện, ví dụ như tài xế, hay hầu như tất cả nhân viên ở Cung Tiêu Xã, bao gồm cả người bán hàng và nhân viên thu mua vân vân.
Đây thực sự là đặc sắc của thời đại.
Thấy Kiều Vi chuẩn bị chu đáo, t.h.u.ố.c có trà có, sư phó thợ điện cũng không hàm hồ, nhanh nhẹn bắt tay vào việc, kéo dây điện đến nhà vệ sinh rồi lắp cho nơi đó một chiếc bóng đèn.
Dây giật đèn đặt ngay bên ngoài cửa phòng. Buổi tối từ trong phòng bước ra, đưa tay sờ một cái chính là dây giật đèn vệ sinh. Kéo một phát, đèn nhà vệ sinh liền sáng, cũng không cần phải sợ hãi nữa.
Kiều Vi cố ý nói với sư phó: “Sư phó, ông lắp cho cháu cái loại công suất lớn một chút nhé.”
Sư phó thợ điện nhìn cô một cái, có chút ngạc nhiên. Bởi vì người khác chỉ biết nói “Sư phó lắp cho cái nào sáng một chút”. Còn Kiều Vi thì nói thẳng là công suất (oát).
Lắp xong rồi, sư phó thợ điện nói: “Nhà cô đúng là đủ hào phóng đấy.”
Cảm giác vị cán bộ quân đội kia quái lạ thật, lại biết thương vợ như vậy. Bởi vì đàn ông thường sẽ không yêu cầu lắp đèn trong nhà vệ sinh, loại yêu cầu này vừa nghe liền biết là người phụ nữ trong nhà đề ra.
Kiều Vi nói: “Chỉ dùng lúc đi vệ sinh thôi mà, cũng chẳng tốn mấy số điện đâu.”
Thợ điện cười: “Cô biết cũng nhiều đấy nhỉ.” Còn biết đơn vị lượng điện là số (độ).
Kiều Vi: “?”
Trò chuyện với sư phó thợ điện Kiều Vi mới biết, hóa ra lúc này tiền điện không thu theo số điện tiêu thụ. Công tơ điện gia dụng vốn dĩ còn chưa tồn tại đâu. Tiền điện mỗi nhà được tính dựa trên số lượng bóng đèn.
Phương thức này gọi là “Chế độ bao đèn”. Cứ đếm số bóng đèn trong nhà mà tính tiền. Mỗi bóng 15 oát một tháng là một hào năm, bóng 25 oát là hai hào năm, bóng 40 oát là bốn hào.
Kiều Vi cảm thấy cái đèn này dùng thời gian ngắn nên cho rằng tốn ít điện. Nhưng thực ra không tính theo điện năng tiêu thụ mà là tiền tháng cố định.
Thật là, vậy thì cần gì phải vì tiết kiệm điện mà cả nhà buổi tối cứ phải tụ tập trong một phòng để đọc sách chứ.
Cô không biết, nhưng Nghiêm Lỗi nhất định phải biết chứ. Tiền điện trong nhà hay mấy thứ này đều do Nghiêm Lỗi phụ trách mà.
Nhưng suy nghĩ một chút thì đại khái chính là thế hệ người này, bất luận dùng cái gì cũng đều mang ý thức tiết kiệm hết mức. Đặc sắc thời đại mà.
Lo xong đèn nhà vệ sinh cũng mới hơn 10 giờ sáng.
Kiều Vi nấu một nồi chè đậu xanh bưng xuống, ngâm trong bể nước giếng khoan cho mát. Cô lấy ra hai loại vải thủ công màu chàm và màu mộc mua ở chợ, gấp lại cho vào giỏ mây rồi dắt Nghiêm Tương ra cửa.
Trên thị trấn có một con hẻm thủ công. Những nghề như sửa giày, may vá cần dựa vào tay nghề để kiếm cơm đều nằm ở con ngõ này. Hiện tại không có hộ kinh doanh cá thể, từ lâu đã thực hiện công tư hợp doanh, thống nhất gom về dưới sự quản lý của văn phòng ủy ban thị trấn, mọi người đều là người có tổ chức, có đơn vị.
Kiều Vi tìm đến tiệm may, mô tả một chút việc mình muốn làm.
Thợ may là một ông lão, ông đẩy đẩy gọng kính lão hỏi: “Cái này làm gì dùng vậy?”
Kiều Vi nói: “Để tựa lưng ạ.”
Ông lão cười: “Tôi cũng đoán thế.”
Kiều Vi cười hì hì: “Cháu mua cái chõng tre, kê sát tường, định làm ba cái gối tựa để làm lưng tựa ạ.”
Ông lão nói: “Thế này thì giống như sô pha rồi. Thoải mái lắm đấy.”
Ánh mắt Kiều Vi sáng lên: “Ông cũng biết sô pha ạ.”
“Hắc, sao tôi lại không biết được chứ.” Ông lão đẩy đẩy mắt kính, “Mười một tuổi tôi đã đi làm học trò ở tỉnh thành rồi, mấy gia đình giàu có đó tôi đều đã thấy qua sô pha.”
Người già rồi thường hay nói nhiều, có vẻ như ông định mở đài kể chuyện về việc thành phố lớn phồn hoa thế nào. Nhưng mấp máy môi một chút, ông lại nhịn xuống rồi ngậm miệng lại.
Đúng là một ông lão từng thấy qua sự đời mà. Nhưng hiện tại cũng không thể đi hoài niệm về cái gọi là "sự đời" thuở trước đó nữa.
Kiều Vi mỉm cười, cũng không hỏi nhiều về chuyện xưa, chỉ hỏi: “Chỗ vải còn lại, màu xanh cháu muốn may một chiếc áo khoác, màu mộc thì muốn may một cái quần.”
“Áo trên chỉ cần cổ tròn ngắn tay, không cần cắt may lập thể, cứ cắt theo mặt phẳng là được. Cháu muốn kiểu rộng thênh thang, xòe ra như hình thang ấy.” Cô tỉ mỉ mô tả, “Quần cũng muốn rộng thùng thình, kiểu quần ống rộng mà ống quần to thật to, có thể xỏ được cả hai chân vào một ống ấy.”
“Kiểu đó chúng tôi gọi là quần chân vịt.” Ông lão nói, “Thế này thì tốn vải lắm.”
Nhưng ông lập tức lại tiếp lời: “Mà thôi không sao, dù sao cũng là vải dệt thủ công.”
Đúng là một ông lão hiểu chuyện và thú vị.
Lão thợ may dùng thước dây đo kích cỡ cho Kiều Vi, hai người thảo luận một lát rồi chốt xong lượng vải dư để trừ hao. Tuy là vải thủ công, ông lão vẫn nhịn không được lắc đầu: “Phí vải quá, phí vải quá.”
Kiều Vi vui vẻ mỉm cười. Cô vốn thích phong cách sâm hệ (mori girl) rộng rãi thoải mái. Những bộ quần áo cô thừa kế từ nguyên chủ, cảm giác ở thời đại này có lẽ là tươm tất, nhưng mặc vào chẳng thoải mái chút nào. Cô chỉ quanh quẩn ở nhà nên muốn mặc sao cho dễ chịu nhất.
Từng trải qua hai năm nằm trên giường bệnh đau đớn, cô đối với sinh mệnh và sinh hoạt đều muốn theo đuổi sự thoải mái, tự nhiên và thích ý nhất có thể.
Lão thợ may hỏi: “Muốn lấy cái nào trước?”
Kiều Vi chọn lấy vỏ gối tựa trước, quần áo thì không vội.
Lão thợ may bảo: “Chiều qua lấy là được.”
Công cụ làm việc của ông lão là một chiếc máy may đạp chân thể tích rất lớn, trông có vẻ đã có từ lâu đời.
Kiều Vi nói: “Làm cái này nhanh mà ông nhỉ.”
Vỏ gối tựa vuông vắn, chắc là dễ làm thôi.
Bởi vì định dùng để tựa lưng nên Kiều Vi làm kích cỡ khá lớn, tận 70x65 cm. Hơn nữa cô không muốn kiểu hai mảnh vải khâu phẳng lại với nhau, cô muốn làm kiểu lập thể, ngoài chiều dài và rộng còn có cả độ cao (độ dày) nữa.
Nhưng dù sao cũng chỉ là cắt may theo đường thẳng, máy may cứ "cạch cạch cạch" một hồi là xong. So với làm quần áo thì vẫn đơn giản hơn nhiều.
Lão thợ may gật đầu, trải vải ra bàn làm việc, dùng phấn may vạch sẵn các đường rồi chuẩn bị cầm kéo. Nhát kéo đầu tiên vừa hạ xuống, ông lão thuận miệng hỏi một câu: “Bên trong cô định nhồi cái gì thế?”
Kiều Vi nói: “Cháu đang định hỏi ông đây, làm sao để mua được bông bây giờ ạ?”
Gối tựa to thế này mà nhét đầy bông, ngả lưng ra sau một cái thì thoải mái biết bao.
Sofa phiên bản bình dân là đây chứ đâu. Cây kéo của ông lão dừng khựng lại, ông ngước mắt lên nhìn Kiều Vi. Ông khom lưng, kính lão trượt xuống tận cánh mũi, đôi mắt nhìn cô từ dưới lên: “Bông?”
Kiều Vi: “Vâng ạ.”
Ông lão đẩy đẩy mắt kính, nhưng vừa buông tay, kính lại trượt xuống. Ông xác nhận lại một lần nữa: “Bông?”
“Dạ...” Kiều Vi bỗng thấy yếu thế, “Không... không được ạ?”
“Cô là người nhà cán bộ đúng không?”
Trên thị trấn có hai khu gia đình quân nhân, dân trấn thường xuyên tiếp xúc với họ. Về cơ bản, chỉ cần liếc mắt một cái là có thể nhận ra ngay ai là người nhà quân đội, ai là dân địa phương.
Ông lão nói: “Cô làm áo bông mới, dĩ nhiên nhồi bông thì không sao. Nhưng cô làm gối tựa...”
Ông lão không nói thêm gì nữa, chỉ lắc đầu. Sự im lặng này còn có sức nặng hơn ngàn lời nói.
Trán Kiều Vi hơi lấm tấm mồ hôi: “Để cháu... cháu nghĩ lại đã...”
Ông lão cúi đầu chuyên tâm cắt vải: “Nhớ chiều qua lấy đấy nhé.”
Kiều Vi dắt Nghiêm Tương chuẩn bị ra về, chợt nghe thấy ông lão như đang lầm bầm tự nhủ: “Biết bao nhiêu nhà, cái áo bông mặc đến mức bông đen sì ra rồi còn chẳng nỡ làm cái mới...”
Thì ra là thế. Kiều Vi tuy thường xuyên tự nhắc nhở mình phải chú ý đến tính thời đại, nhưng dù sao cô cũng đến từ thời đại internet, nơi hàng hóa cực kỳ phong phú và kỹ thuật phát triển vượt bậc.
Việc nắm bắt cái "ngưỡng" sử dụng vật phẩm đối với cô vẫn còn rất khó khăn. Dù sao thì bông ở đời sau chủ yếu chỉ dùng để dệt vải, hầu như chẳng còn mấy ai đắp chăn bông hay mặc áo bông chần nữa.
Giữ được chừng mực trong thời đại này quả thực quá khó. Kiều Vi thực cảm kích lão nhân gia đã nhắc nhở mình, cô nhẹ nhàng nói thanh “Cảm ơn” mới rời đi.
Từ tiệm may không trực tiếp về nhà, lúc Kiều Vi cùng Nghiêm Tương ra ngoài, ngoài vải vóc, cô còn xách theo một cái thùng.
Nghiêm Tương vung chiếc xẻng nhỏ lên: “Mẹ ơi, đi thôi!”
Kiều Vi: “Đi!”
Đã nói là hôm nay đi nhặt đá cuội mà.
Hai mẹ con xách theo một cái thùng, Nghiêm Tương còn cầm theo chiếc xẻng nhỏ của mình —— cái xẻng mà lúc đi đào bùn sông cùng ba đã phát huy tác dụng đấy.
Ngày hôm qua đi chợ phiên Kiều Vi đã nhìn thấy rồi, dưới sông có đá cuội.
Hai mẹ con tới bờ sông, ánh mặt trời chiếu xuống khiến dòng sông nhỏ lấp lánh sóng nước. Nơi này đã là rìa ngoài thị trấn, phía xa có thể nhìn thấy những dải ruộng xanh mướt trải dài.
Dưới ánh nắng, Kiều Vi vén lọn tóc mai ra sau tai, cảm thán phong cảnh điền viên cũng chỉ đến thế này là cùng.
Cô tìm một chỗ nước cạn, mắt thường có thể nhìn thấy đáy sông, người có thể trực tiếp lội qua được.
Vì dắt theo trẻ con nên cô chọn độ sâu không gây nguy hiểm. Hai mẹ con đều cởi giày, xắn ống quần, để chân trần xuống sông rồi cúi người nhặt đá cuội.
“Tại sao cái này lại gọi là đá cuội (thạch đầu trứng) nhỉ?” Kiều Vi nói, “Trứng chính là ý chỉ quả trứng ấy. Con nhìn kích thước và hình dáng của những viên đá này xem, có phải rất giống trứng ngỗng không, nên mới gọi là thạch đầu trứng.”
Đứa trẻ học thêm được kiến thức mới, vui vẻ cúi người mò đá.
Kiều Vi dặn dò cậu bé: “Phải tìm viên nào đẹp nhé.”
Đá đẹp trông như thế nào thì không cần dạy, đôi mắt con người sẽ tự biết nhìn.
Những viên màu nhạt, gần như bán trong suốt, hoặc màu sắc đặc biệt thuần khiết chính là đá đẹp. Không cần Kiều Vi dạy, Nghiêm Tương cũng có thể nhặt ra được.
Lúc này ánh nắng đã khá gắt, nhưng nước sông lại mát lạnh. Ngâm chân bên trong cảm thấy đặc biệt thoải mái.
“Bà dì” của Kiều Vi đã rút quân nên cô cũng không sợ chạm nước lạnh. Cô còn đội chiếc mũ rơm mua ở chợ hôm qua.
Chiếc mũ rơm này vốn là kiểu mũ nông dân màu mộc. Nếu có thể thắt một dải lụa xinh đẹp quanh vành rồi thắt nơ bướm thì đúng chuẩn phong cách đi dã ngoại bờ biển.
Nhưng làm vậy e là quá mức tiểu tư sản, vả lại cũng chẳng có dải lụa nào xinh xắn cả. Kiều Vi cắt một dải vải thủ công màu chàm buộc quanh một vòng, thắt thành hình nơ.
Dải vải đó thậm chí còn chưa vắt sổ, tua rua đầy đầu sợi.
Trông cách trang trí vừa tự nhiên, vừa thuần phác.
Người ta chỉ có thể nói cô đồng chí này rất khéo sắp xếp, yêu cái đẹp. Chứ không thể nói cô đồng chí này tiểu tư sản, hủ bại hay điệu đà được.
Hai mẹ con nhặt đá vui vẻ cực kỳ. Chẳng mấy chốc đã đầy một thùng. Ngồi trên tảng đá lớn bên bờ sông phơi khô chân, xỏ giày vào chuẩn bị thắng lợi trở về, Kiều Vi cúi người xách thùng...
Không, không xách lên nổi. Đúng là quá đ.á.n.h giá cao bản thân mình rồi, Kiều Vi dở khóc dở cười.
Cuối cùng không còn cách nào khác, cô đành đổ ra nửa thùng đá cuội chồng tạm bên cạnh tảng đá lớn, xách nửa thùng về trước.
Lúc này nắng đã quá gắt, Kiều Vi nói: “Chỗ kia để buổi chiều lại đi nhé.”
Nghiêm Tương: “Vâng ạ!”
Ăn cơm trưa xong, lệ thường chính là ngủ trưa.
Ngủ trưa đúng là một thói quen tốt. Một giấc ngủ dậy, lười biếng nhìn ánh nắng bên ngoài. Giờ này khắc này thực sự chẳng thấy thế gian có chuyện gì cần phải tất bật, vội vã. Chỉ muốn nhắm mắt nghe tiếng ve kêu.
Chờ khôi phục tinh thần, cô đi rửa mặt. Nghiêm Tương cũng dậy rồi, đứa trẻ ngủ đủ giấc nên tinh thần tràn đầy: “Mẹ ơi, đi thôi!”
Kiều Vi bật cười: “Đi!”
Hai người lại ra bờ sông, xách nốt nửa thùng đá còn lại về nhà. Cô đem ngâm chỗ đá đó vào thùng nước cùng với chỗ nhặt hồi sáng.
“Mẹ ơi, đủ chưa ạ?” Nghiêm Tương mắt long lanh chờ đợi hỏi.
Kiều Vi bảo: “Còn kém xa lắm con ạ.”
Cô lấy một chiếc que nhỏ, vạch hai đường thẳng song song từ cổng viện vào đến cửa nhà: “Con nhìn xem, muốn xây một con đường như thế này, lát toàn bộ bằng đá cuội thì chỗ này căn bản không đủ.”
Nghiêm Tương vỗ tay cái bộp: “Đi, chúng ta lại đi tiếp!”
“Hôm nay thế thôi, thứ này nặng lắm. Chúng ta học theo Ngu Công dời núi, mỗi ngày một ít thôi.” Kiều Vi nói.
Không phải là tìm mấy người thợ nhanh nhẹn làm cho xong, mà là tự mình động thủ, thay đổi và chế tạo từng chút một.
Thậm chí ngay cả khi làm không tốt, trông rất xấu hay thất bại cũng chẳng sao. Bởi vì niềm vui lớn nhất nằm ở chính quá trình thực hiện.
“Trước tiên đào hố cát đã nào.” Kiều Vi nói.
Cô đã bàn bạc với Nghiêm Lỗi, anh nói anh sẽ đi lo liệu hạt cát. Kiều Vi liền bảo cô sẽ chịu trách nhiệm đào hố.
Nghiêm Tương không chịu, trực tiếp nhảy dựng lên: “Con tự đào! Hố cát của con thì con tự đào!”
Mẹ đã bảo với cậu bé rồi, cái hố này sau này sẽ đổ cát vào cho cậu chơi. Nam t.ử hán thì phải tự tay đào cái hố của chính mình chứ!!