"Đường hoang mây tối mịt mù,
Thuyền nan trên bến lửa lu lập lòe."
Nơi chân trời xa xăm, bóng dáng những dãy núi trùng điệp uốn lượn nhấp nhô, quả đúng là:
"Núi theo bình nguyên dần rộng mở,
Sông hòa đại hoang chảy mênh mang."
Đang mải miết thả hồn theo những vần thơ thi vị, Chu Hạo bất ngờ bị lôi xệch xuống giường đất. Chẳng cần đoán cũng biết Thác Nhĩ Khắc Khắc lại giở trò trêu chọc. Mệt mỏi rã rời, Chu Hạo chẳng buồn bận tâm, xoay lưng lại phía Thác Nhĩ Khắc Khắc. Vòng tay vạm vỡ của đối phương ôm gọn lấy eo hắn, thì thầm bên tai: "Thấy ngươi nãy giờ cứ đăm chiêu không nói gì, đang mải nghĩ ngợi chuyện chi vậy?"
Cơn buồn ngủ đã kéo đến trĩu nặng đôi bờ mi, Chu Hạo ngái ngủ đáp bừa: "Nhớ... nhớ Tần Dục."
Người phía sau bỗng chốc im bặt, tịnh không nhúc nhích. Không gian chìm vào tĩnh lặng, chỉ còn tiếng gió rít từng cơn ngoài bậu cửa, và tiếng thở dài khe khẽ hòa cùng ngọn đèn dầu lay lắt sắp tắt.
Tờ mờ sáng hôm sau, khi màn đêm vẫn chưa kịp tan, Chu Hạo đã bị Thác Nhĩ Khắc Khắc dựng đầu dậy. Vừa yên vị trên lưng ngựa, cơn ngái ngủ lại ập tới, hắn càu nhàu oán trách cớ sao phải khởi hành sớm nhường này. Thác Nhĩ Khắc Khắc vẫn canh cánh nỗi lo truy binh đuổi kịp, nằng nặc thúc ngựa lao đi. Cứ thế, ba người ngày đêm rong ruổi không ngừng nghỉ. Ròng rã mười bốn ngày trời, cuối cùng họ cũng đặt chân đến vùng lân cận dãy Cáp Hận. Dãy Cáp Hận vốn là một mạch nối dài của dãy núi Tang Ấm, vắt ngang như một bức tường thành thiên nhiên ngăn cách thảo nguyên bao la và vùng đất Trung Thổ màu mỡ. Ngay tại dãy núi này có một khe hở tự nhiên, được người đời xưng tụng là Nham Khẩu Xuyên.
Từ thời trẻ trâu, Chu Hạo đã đem lòng say đắm những vần thơ biên tái hào hùng. Nay được tận mắt chứng kiến khung cảnh biên cương hùng vĩ, lòng hắn bỗng trào dâng một niềm phấn khích khó tả. Trước mắt là vùng đất đai khô cằn, cát bụi mịt mù, mở ra một không gian mênh m.ô.n.g bát ngát. Vó ngựa phi đến đâu, bụi cát cuốn lên mù mịt đến đó, cảnh tượng đúng như câu thơ miêu tả: "Ngựa cưỡi Nam phương toan tới tận trời, cát phẳng vạn dặm vắng bóng người!".
Niềm cảm hứng thi ca trào dâng mãnh liệt, Chu Hạo hăng hái quay sang hỏi Thác Nhĩ Khắc Khắc: "Thác Nhĩ Khắc Khắc, ngươi đã từng nghe danh Cao Thích, Sầm Tham bao giờ chưa?"
Thác Nhĩ Khắc Khắc ngơ ngác: "Họ là thần thánh phương nào?"
Chu Hạo phớt lờ câu hỏi, tiếp tục thao thao bất tuyệt: "Vậy còn Vương Xương Linh, Vương Chi Hoán thì sao? ... Bọn họ là 'Biên Tái Tứ Kiệt', mỗi người mang một ngòi b.út tài hoa riêng biệt, khiến hậu thế khó lòng phân định ai hơn ai. Ngươi đã từng nghe câu thơ: 'Đại mạc phong trần nhật sắc hôn, hồng kỳ bán quyển xuất viên môn' (Gió bụi mạc to mờ sắc nắng, cờ đào hé mở khỏi doanh môn) chưa?... Hay câu: 'Hoàng Hà viễn thượng bạch vân gian, nhất phiến cô thành vạn nhận san' (Sông Hoàng dường v.út tận mây, cô thành lọt thỏm ngàn dặm non cao)?... Còn câu này nữa: 'Gần quan nhiều mưa tuyết, qua ải có phong trần'?"
Càng nói, giọng Chu Hạo càng trở nên cao v.út, đầy phấn khích. Hắn bắt đầu dõng dạc ngâm vang bài thơ "Yên Ca Hành":
"Chẳng hay khói lửa dấy Đông Bắc,
Tướng Hán từ giã dẹp tàn tặc.
Làm trai mang chí lớn tung hoành,
Thiên t.ử đặc ân ban sắc nhan.
Khua chiêng gióng trống hạ Du quan,
Cờ xí uốn lượn chốn Kiệt thạch.
Hịch truyền như bay tới Hãn hải,
Lửa săn Thiền vu rọi Lang sơn.
Núi sông tiêu điều tận biên ải,
Kỵ binh giặc xâm phạm giữa mưa gió.
Quân sĩ xông pha nửa sống c.h.ế.t,
Người đẹp trong trướng vẫn múa ca.
Sa mạc độ thu cỏ úa tàn,
Cô thành chiều tà vắng bóng quân.
Cảm kích ân vua thường khinh địch,
Sức cùng lực kiệt ải chưa thông.
Áo sắt bao năm chinh chiến khổ,
Châu ngọc lệ tuôn thuở chia ly.
Thiếu phụ thành Nam ruột đứt đoạn,
Chinh phu Kế Bắc chẳng đoái hoài.
Chốn biên ải trập trùng khó vượt,
Cõi bao la mịt mù biết về đâu.
Sát khí ba mùa dâng mây trận,
Gió lạnh một đêm vọng tiếng chiêng.
Nhìn nhau gươm sắc m.á.u tuôn rơi,
C.h.ế.t vì tiết tháo sá gì công lao?
Người chẳng thấy chinh chiến sa trường khổ,
Đến nay hãy còn nhớ... Lý... tướng... quân!"
Đến câu cuối cùng "Lý tướng quân", Chu Hạo gần như gào thét lên bằng tất cả nội lực, âm vang dội vọng cả đất trời.
Quả đúng là khí phách của kẻ sĩ: "Chẳng hận cổ nhân ta không thấy, chỉ hận cổ nhân chẳng thấy cái ngông cuồng của ta!"
Dẫu chẳng hiểu ý nghĩa thâm sâu của những vần thơ ấy, nhưng ánh mắt Thác Nhĩ Khắc Khắc dõi theo bóng lưng Chu Hạo lại chan chứa sự ngưỡng mộ khôn tả. Vòng tay đang ôm c.h.ặ.t eo Chu Hạo bất giác lại siết thêm một chút.
Đoàn người tiến sát Nham Khẩu Xuyên. Tọa lạc tại đây là một thành trì quy mô đồ sộ mang tên "Át Nam Thành". Vốn là pháo đài trấn giữ biên cương, bên trong thành chủ yếu là nơi đồn trú của binh lính và thân nhân. Nằm lọt thỏm ngoài rìa thành là một thị trấn sầm uất xen lẫn các doanh trại quân đội. Thác Nhĩ Khắc Khắc quyết định không mạo hiểm tiến sâu vào nội thành mà chọn thị trấn này làm nơi dừng chân. Gọi là thị trấn cho oai, thực chất nơi đây tồi tàn đến độ chẳng sánh bằng một làng quê hẻo lánh trên Trái Đất. Kiến trúc nhà cửa lộn xộn, xen lẫn giữa những túp lều nỉ lụp xụp là vài ngôi nhà vách đất, nhà sàn bằng gỗ thô kệch. Cư dân nơi đây chủ yếu là người Trung Thổ, người Sắc Mục, thậm chí có cả những gương mặt lai tạp, ắt hẳn đây là điểm giao thương tấp nập của phường buôn bán gia súc, cừu bò. Sau khi dặn dò Trát Đồ vài câu bằng ngôn ngữ Sắc Mục, Trát Đồ vội vã cưỡi ngựa rời đi. Thác Nhĩ Khắc Khắc bèn đưa Chu Hạo đi lùng sục một chốn tá túc. Khách điếm ở đây sập xệ đến mức gọi là quán trọ bình dân thì đúng hơn. Hai người chọn một căn phòng vách đất nhỏ xíu, diện tích chừng hơn hai mét vuông.