Nàng gạt từng lớp đất sang một bên, nói với chàng: “Đây là quà di nương cho ta, không thể để tỷ tỷ phát hiện.”

Khi tiểu cô nương ngẩng mặt lên, đôi mắt sáng trong như chứa nước.

Chàng lo chôn sâu quá sẽ không tìm lại được, nhưng tiểu cô nương vô cùng chắc chắn, kéo chàng đi một vòng quanh gốc cây.

Trong bụi cỏ có cỏ đuôi ch.ó bị ép xuống, khe đá cắm cành gỗ xiêu vẹo, mỗi chỗ đều là dấu hiệu nàng lén để lại.

Nàng nhớ rõ ràng, tuyệt đối không nhận nhầm kho báu của mình.

Cuối cùng nàng đào được một viên châu, do dự rất lâu rồi nhét vào tay chàng: “Tặng huynh, nhưng đừng nói với tỷ tỷ.”

Đó là quà năm mới mẫu thân nàng tặng, nàng luyến tiếc rất lâu, cuối cùng vẫn nhét vào tay chàng.

Về sau cha mẹ hỏi chàng có nguyện ý kết thân với Liễu gia hay không, chàng nhớ tới đôi mắt sáng ngời ấy.

Chàng lập tức gật đầu, chỉ tới cuối mới hỏi thêm một câu: “Định hôn với cô nương nào của Liễu gia?”

Liễu phụ đáp: “Nhà ta chỉ có một nữ nhi.”

Chàng từng nghi hoặc tiếng “tỷ tỷ” kia chỉ ai, nhưng lại cho rằng đó là đường tỷ hay biểu tỷ, nên không hỏi tiếp.

Vài năm sau, chàng càng tò mò muốn biết tiểu cô nương chôn kho báu đã lớn thành dáng vẻ gì, liền xin mẫu thân hỏi Liễu gia một bức họa.

Nữ t.ử trong tranh đoan trang xinh đẹp, mày mắt dịu dàng, quả thật là dáng vẻ của khuê tú danh môn, chỉ thiếu đôi mắt sáng trong thuở nhỏ.

Chàng chỉ nghĩ họa sư không thể vẽ được thần vận ấy, hoặc tiểu cô nương lớn lên đã nhiều tâm sự hơn.

Chu Nghiễn An tiễn Bùi Hành Chu ra tới cổng sân.

Bùi Hành Chu vừa định rời đi, khóe mắt nhìn thấy ta dưới hành lang cách màn tuyết đang vẫy tay với Chu Nghiễn An.

Giọng nói mơ hồ cũng theo gió đưa tới, như đang giục người vào nhà.

Bước chân chàng dừng lại, hơi thở vô cớ trở nên khó khăn.

Giọng nói ấy, dáng vẻ đứng bên cửa đợi người ấy, rõ ràng từng xuất hiện trong phần ký ức đã mất.

Chàng cố đè nén cơn tim đập loạn đột ngột.

Chu Nghiễn An đã quay người, nhanh chân trở lại dưới hành lang, ôm ta vào căn phòng ấm áp.

Khi cửa khép lại, l.ồ.ng n.g.ự.c Bùi Hành Chu lại đau một lần, ngay cả chàng cũng không nói rõ nguyên do.

Chàng một mình đứng rất lâu giữa tuyết, mặc tuyết rơi phủ đầy vai rồi mới chậm rãi quay về quân doanh.

Chiến sự căng thẳng, Bùi Hành Chu bị thương hôn mê.

Biên quan gần như cách vài ngày lại có một trận giao chiến, tin người bị thương từng đợt từng đợt truyền về thôn.

Tình hình gần đây còn căng hơn lúc đầu đông, tin tức trong doanh gần như chưa từng ngừng.

Chu Nghiễn An lấy ra một củ nhân sâm tổ truyền.

Củ sâm ấy được Chu gia truyền từ đời này sang đời khác, ngày thường luôn cẩn thận cất dưới đáy hành lý.

Ta hỏi: “Đây là vật gia truyền của Chu gia, chàng thật sự muốn đem tặng sao?”

Chàng nói: “Thế t.ử bảo vệ dân vùng biên, sâm để trong tủ không bằng dùng cứu người.”

Tiểu Mãn cũng gật đầu: “Ngài ấy là tướng quân tốt, người trong thôn ai cũng kính phục.”

Chu Nghiễn An bảo ta ăn cơm trước, còn mình ôm hộp sâm ra cửa, đi một mạch tới tận đêm khuya.

Đêm khuya chàng mới trở về, trước tiên đứng ngoài cửa sưởi ấm hai tay rồi mới nói: “Người đã tỉnh.”

Ta thở phào.

Trái tim treo cả ngày cuối cùng cũng từ từ hạ xuống.

Ba năm tình nghĩa phu thê rốt cuộc từng thật sự tồn tại, cho dù chàng đã quên, ta vẫn mong chàng bình an.

Huống hồ dân chúng biên quan cũng cần chàng chống đỡ cục diện.

Chu Nghiễn An lại nói: “Chỉ có chút kỳ lạ… ngài ấy hỏi tình cảm phu thê chúng ta thế nào.”

“Ta còn nghi ngờ có phải ngài ấy lại quên thêm một lần nữa không.”

Chàng nói trước đó Bùi Hành Chu rõ ràng còn khen phu thê chúng ta tình sâu, vậy mà sau khi tỉnh lại lại cố ý hỏi thêm, thật khiến người ta khó hiểu.

Ta đẩy chàng đi ăn cơm: “Tình cảm của chúng ta đương nhiên rất tốt.”

Về sau quân doanh đưa tới một chiếc khăn choàng lông hồ ly tuyết, ta vuốt lớp lông mềm, trong lòng không nói rõ được là cảm giác gì.

Bộ lông bóng mượt mềm mại, đầu ngón tay lướt qua chỉ thấy tâm tư phức tạp hơn trước.

Sang xuân, chiến sự dừng lại, chúng ta chuẩn bị trở về kinh.

Lúc thu dọn hành trang, Bùi Hành Chu đích thân tới, ánh mắt như có như không lướt qua người ta.

Yết hầu chàng khẽ động rồi mới hỏi: “Hoài An có thổ phỉ, có muốn theo quân cùng đi không?”

Ta nói: “Không cần.”

Chu Nghiễn An lại nói: “Được.”

Chàng nhìn ta một cái rồi lập tức đổi lời: “Nghe phu nhân, chúng ta đi phía sau cũng được.”

Bùi Hành Chu nói: “Chu công t.ử tặng sâm cứu ta, ta chỉ muốn bảo vệ các ngươi bình an.”

Chuyện Chu Nghiễn An gặp nạn lần trước vẫn khiến ta sợ hãi, vì chàng và Tiểu Mãn, cuối cùng ta vẫn đồng ý theo đại quân về kinh.

Nghĩ đi nghĩ lại, Hoài An đã có thổ phỉ, đi cùng đại quân rốt cuộc vẫn an toàn hơn.

Ta chỉ cần suốt đường tránh trong xe ngựa, hẳn sẽ không chạm mặt Bùi Hành Chu.

Nhưng trên đường về, hôm nay chàng đưa lương khô, ngày mai đưa chăn, ngày kia lại đưa vật dụng dọc đường, thứ gì cũng chuẩn bị đầy đủ.

Trong lòng ta ngày càng bất an, nhưng cũng không tiện mở lời nói gì.

Về đến kinh thành, vừa đẩy cửa sân, cây đào kia đang nở đầy hoa hồng trắng.

Hoa đầy cành nở náo nhiệt rực rỡ, vừa nhìn đã khiến lòng người vui vẻ.

Biên quan đại thắng, thiên t.ử phong Bùi Hành Chu làm Định Viễn tướng quân.

Chàng cũng tấu lên chuyện Chu Nghiễn An nhiều lần quyên tặng quân tư, nhờ vậy Chu Nghiễn An được ban một hư hàm thông phán.