Vị tú tài ấy, từng là người thân cận của mẫu thân Đông Vũ. Mẫu thân nàng vốn định mang theo nàng cùng rời đi, nhưng tổ phụ của Đông Vũ thương nàng như tròng mắt, nhất quyết không buông. Sau khi rời đi, bà mang lòng hối hận, chẳng dám mặc gấm vóc, dùng cao lương mỹ vị.
Đặc biệt là sau cơn đại hồng thủy ở Hải Lãng Hà, khi nghe tin dữ trở về Bình Sơn thôn, Đông Vũ đã bị bán đi mất. Vì quá đau khổ, mẫu thân nàng lâm trọng bệnh, suýt nữa mất mạng.
Về sau tình cờ biết nàng đã trở lại, mẫu thân nàng lặng lẽ quay về Ninh An thành, từ xa lén nhìn mấy ngày, thấy mẹ ta dạy nàng ghi sổ, dạy chữ sau quầy, thấy nàng bày trò nũng nịu đấu khẩu với cô cô và tổ mẫu…
Rồi lặng lẽ quay lại Hoàng Long phủ.
Trước khi đi, bà mua lại cửa tiệm, nhờ ta giao khế ước cho Đông Vũ.
Chu tú tài chỉ nói một câu:
“Hãy nói với Đông Vũ, đừng oán mẹ nó.”
Ta hỏi ông:
“Bà ấy… sống có tốt không?”
Ông chỉ nhẹ gật đầu:
“Tốt.”
Chỉ cần sống tốt là được. Người như Đông Vũ — lương thiện, chân thành — sao có thể dễ dàng hận ai, huống hồ lại là mẫu thân ruột thịt.
Phía nhà họ Lâm ở Tế Nam phái tới Lâm nhị lão gia, trời đã sang xuân, ông vẫn quấn c.h.ặ.t áo hồ cừu run lập cập, khăng khăng đòi tới gặp Lâm Sơ Tịch.
Khi ấy nàng đã vượt qua Thiên An Sơn, ta chỉ đành thuê xe ngựa chở ông tới đại doanh.
Trong doanh trại, vừa gặp con gái, Lâm lão gia đã túm lấy tai nàng mà mắng:
“Nghiệt chướng! Sao ngươi khắc nghiệt với chính mình thế!”
Cho đến khi phát hiện lòng bàn tay dính m.á.u — hóa ra đã làm vỡ vết lở loét do lạnh trên tai con gái — ông mới hoảng hốt buông tay, lùi lại hai bước, nhìn dáng vẻ tiều tụy của nàng rồi ngã ngồi xuống đất khóc lớn:
“Là ta không đúng… là ta quá tham tiền, để con ta chịu khổ đến thế này…”
Khóc rồi, lại là một màn ôn nhu hỏi han, cha con tâm sự.
Lâm Sơ Tịch để ta hộ tống ông trở về Ninh An thành, nhưng lão nhân lại cố chấp vô cùng, sống c.h.ế.t không chịu đi.
Ông nói, nàng đã buộc ông bán sạch gia sản, đến cả phủ đệ cũng bán nốt, giờ trên người ngoài bộ áo này chẳng còn gì, phải bám theo con gái mà sống c.h.ế.t cùng nhau.
Không thể lay chuyển, đành để ông lưu lại.
May thay, có lương thực đầy đủ, tiền bạc sung túc, tinh thần ba quân hăng hái, tướng sĩ đồng tâm hiệp lực. Lại thêm sự tàn bạo của tộc Cáp Tát Khắc khiến lòng dân phẫn uất, nội ưu ngoại hoạn chồng chất.
Trước khi thu sang, quân ta đã hoàn toàn thu phục được bình nguyên Y Nhĩ Hà, chiêu hàng những bộ tộc nguyện quy thuận, đ.á.n.h đuổi tộc Cáp Tát Khắc ra khỏi bờ cõi.
Ta — trên danh nghĩa là tiểu tướng tiên phong, chiến công hiển hách, được cùng Đại tướng quân tiến kinh bái kiến hoàng thượng lĩnh thưởng.
Trong triều, ta thấy vài người mang ánh mắt cười cợt nhìn ta, hẳn là cũng giống ta, chiếm công của Lâm Sơ Tịch mà đứng đây nhận thưởng.
Ta mấy lần muốn tấu rõ chân tướng, nhưng vừa thấy ánh mắt ra hiệu của Tướng quân, lại nhớ lời Lâm Sơ Tịch từng phân tích về triều chính đại cục — chính trị không phải là chuyện trong thoại bản, một phút bốc đồng có thể khiến biết bao người chịu vạ lây, thế cục nghiêng ngả.
Ta gắng nén xúc động, khấu tạ hoàng ân, chỉ là khi hoàng thượng đề nghị ta lưu lại bộ Binh, ta kiên quyết khước từ.
Ta cúi đầu, rồi lại cúi đầu sâu hơn, nhớ tới tuyết trắng nơi đó, những con người nơi đó, ta lại quỳ xuống, khẩn cầu hoàng thượng cho ta hồi cố Ninh Cổ Tháp, nguyện suốt đời trấn thủ biên cương, tận trung báo quốc.
Hoàng thượng khen ta tấm lòng son sắt, phong cho quan chức, xá miễn tội cho phụ thân.
Ta không dám nán lại kinh thành thêm một khắc, lập tức lên đường hồi hương.
10
Ta trở về Ninh An thành, quỳ gối giữa sân viện Xuân Hàn Trai.
Mẫu thân tay cầm một cành roi mây dài hơn cả A Miên, đi quanh ta mấy vòng, miệng lẩm bẩm:
“Xem nên đ.á.n.h vào chỗ nào để đ.á.n.h c.h.ế.t cái đứa bất hiếu như ta đây.”
Đông Vũ cũng quỳ bên cạnh ta, dịu giọng thưa:
“Thiếu gia chẳng phải cố ý giấu giếm. Lần này trở về, mang theo chiến công hiển hách, lão gia lại được miễn tội, sao có thể gọi là bất hiếu? Huống hồ Hoàng thượng còn ngợi khen hắn trung quân ái quốc. Nếu người đ.á.n.h thiếu gia, chẳng phải là bất mãn với thánh chỉ, lỡ bị truyền ra ngoài, chẳng phải rước họa vào thân?”
Mẫu thân bị chẹn họng, liền xắn tay áo lên, làm ra vẻ ác bà bà mà rằng:
“Tốt quá rồi, sách đọc không uổng công, giờ đã dám uy h.i.ế.p mẹ chồng rồi? Không nói ra thì ai biết được chứ?”
A Miên theo Anh thúc vừa gặm hồ lô đường vừa dõng dạc hét:
"Con nói được! Con nói được đó!"
Trở về Bình Sơn thôn tổ chức hôn lễ, Lưu lão đầu uống nửa vò rượu, đi khắp nơi rêu rao rằng ta là kẻ vong ân phụ nghĩa, không chịu mua cho ông nửa dãy nhà phố như đã hứa — tâm địa đen tối. May mà ta được người đời thương yêu, người khác chỉ tưởng ông là t.ửu quỷ đến phá đám.
Sau thành thân, ta cùng Đông Vũ dọn đến nha môn Thủy sư doanh, mẫu thân bận rộn cùng cô cô chuyển giao cửa hàng, lại dạy Thanh Thanh quản sổ sách. Mải mê như thế, bất tri bất giác, thêm một năm trôi qua.
Mùa đông thứ tư ập tới, phụ mẫu và muội muội trở về Kinh, Cao Tổng quản suýt chút nữa bị bỏ lại ở tướng phủ cũng được ta đón ra. Khi ta tới đón, suýt nữa lại bị mẫu thân đ.á.n.h một trận, may mắn khi ấy ta đang mặc quan phục.
Ly biệt chẳng cần nói lời tiễn biệt hoa mỹ, vì dù ở nơi đâu, chúng ta đều sẽ gắng sống thật tốt, quý trọng chính mình.
Sau khi người nhà rời đi, ta có phần cô quạnh mấy ngày, nhưng cũng không sao — vì ta còn có Đông Vũ.
Sự tốt đẹp của Đông Vũ vượt xa tưởng tượng của ta.
Nàng đã đọc rất nhiều sách, và vẫn đang tiếp tục học hỏi không ngừng. Lưu lão đầu và Anh thúc thường ghé nhà ta uống trà, nói rằng từ sau khi A Miên đi, người chăm học nhất thành chính là Đông Vũ.
Nàng cũng bắt đầu làm ăn, tuy không có thiên phú bẩm sinh như mẫu thân, nhưng trầm ổn, tỉ mỉ, biết lo xa, luôn tùy cơ ứng biến, lên kế hoạch đâu ra đấy. Quả thật, nàng đã giúp thôn sửa trường học mới, dẫn dắt bà con làm ăn ngày càng khấm khá.
Hơn thế, nàng gan lớn mà tâm lại tinh tế.
Nàng đi dọc biên giới phía Bắc vừa bình định, vượt sang Sa Nga, năm thứ năm sau thành thân, nàng theo đoàn thương nhân vào Kinh thành, sau lại cùng thương đội do mẫu thân giới thiệu, xuôi Nam đến Lưu Cầu, Giao Chỉ.
Những năm tháng sau đó, nàng đi đến đâu, làm ăn đến đó, nhiều lần qua lại Pháp Lan Tây và Đại Bất Liêm.
Việc kinh doanh ngày càng phát đạt, ngoài thương đội lại có thêm thương thuyền, thậm chí còn nhiều lần được yết kiến hoàng thượng, thay triều đình đưa sứ giả đến Tây phương các nước, giao thư tay giữa tân hoàng và hoàng đế Pháp Lan Tây.
Thế nhưng, nàng không còn vui vẻ. Dường như, ngày càng không vui.
Cuối cùng, đến năm Lưu Cầu lấy cớ ngư dân bị hại, xâm chiếm đảo Di Châu, triều đình chẳng những không trách phạt, lại còn bồi thường hàng chục vạn lượng bạc trắng, ta cảm nhận được — nàng đã hoàn toàn đ.á.n.h mất khí cốt trong lòng.
Nàng hỏi ta:
“Triều đình luôn tranh cãi là nên phòng biên ải hay hải cương, nếu đã không thể đ.á.n.h, thì phòng ngự chẳng phải chỉ là lời hèn nhát sáo rỗng sao?”
Ta không trả lời được.
Dù ta đã làm quan nhiều năm, chúng ta đã dọn đến phủ trị của Bắc La, nhưng…
Ta muốn hỏi Lâm Sơ Tịch, nhưng nàng đã c.h.ế.t nơi Tây Vực, theo Trang Đại tướng quân bình loạn mười năm trước — một lần nữa c.h.ế.t không có tên tuổi.
Nàng lại hỏi ta:
“Khi ta du hành Tây phương, đem những kiến thức kỳ diệu kể cho hoàng đế và nội các nghe — tàu hỏa bốc khói, thuyền lớn vượt sóng, đại pháo tinh xảo… đúng rồi, cái từ ấy gọi là tiến bộ.
Thế mà hoàng đế chỉ căn dặn ta đừng loan truyền dân gian, tiện thể yêu cầu ta dâng thêm bạc, lại ban thưởng vài câu, rồi cho lui.
Vì sao không thể nói? Vì sao không nhanh ch.óng để mọi người hiểu, đuổi kịp cái gọi là “tiến bộ”?
Vì sao không đề phòng tiến bộ, lại đề phòng chính bách tính?”
Lần đó, người tiễn nàng về là một nội giám, mang về luôn một đạo thánh chỉ:
Triều đình tịch thu thương thuyền của Xuân Hàn Trai, từ nay cấm thương nhân ra biển.
Triều đình cũng cấm nàng xuất môn, lại còn khiển trách ta quản gia vô phương, để thê t.ử lộ diện buôn bán, còn cả gan chất vấn thiên t.ử.
Toàn bộ sự vụ của Xuân Hàn thương hành, từ đó chuyển giao cho con trai duy nhất của chúng ta.
Nàng cầm thánh chỉ, sau khi nội giám rời đi, khẽ nhấc tay, thản nhiên buông xuống mặt đất:
“Cấm ta ra cửa…
…vậy thì cửa này, ta cũng chẳng muốn bước ra nữa.”
11
Đông Vũ, ái thê của ta, đã mất rồi.
Năm ấy, mùa đông tuyết trắng đầy trời, hệt như bao nuối tiếc chất đầy trong lòng ta.
Từ sau khi bị cấm túc, nàng vùi mình trong sách vở, dường như muốn tìm ra điều gì, rồi từ từ nguội lạnh, buông xuôi, chẳng đọc nữa.
C.h.ế.t… có lẽ là tốt.
Mang theo một nghi vấn, vẫn hơn là mang theo vô vàn thất vọng và phẫn nộ.
Ta không dám nói với nàng, chiến sự nổi lên khắp nơi, bế quan tỏa cảng chẳng thể cản được bước chân “tiến bộ”.
Cắt đất, bồi thường, từng tầng từng lớp đổ xuống — vắt cạn m.á.u của bách tính.
Quê hương nàng — Bình Sơn thôn, nhờ có nàng và bà con đồng lòng mà phất lên thành trấn Bình Sơn.
Vậy mà mấy năm ngắn ngủi, nay đã không còn.
Lần này, diệt vong còn tàn khốc hơn hồng thủy, sưu cao thuế nặng, lại thêm một trận ôn dịch bất ngờ mà vô triều vô phủ cứu chữa, nơi ấy hóa thành t.ử địa.
Mà t.ử địa như thế, giờ trên mảnh đất này mọc lên khắp nơi như hoa m.á.u của lê dân.
Con gái của Triết Nhị nhà họ Triệu, vẫn là c.h.ế.t rồi.
C.h.ế.t cùng con gái của nàng.
Ta tên Ngô Tiêu Minh, từng là công t.ử ăn chơi khét tiếng Kim Ngư Hạng Kinh Thành, cũng từng là chàng rể sáng giá nhất Bình Sơn thôn.
Từ khi Đông Vũ qua đời, nhìn giang sơn rách nát từng mảnh, nhìn Thiên An Sơn mà Lâm Sơ Tịch đ.á.n.h đổi sinh mạng để giữ gìn bị ngoại bang chiếm lại, nhìn từng người thân yêu lần lượt rời đi…
Ta tuyệt vọng.
Nhưng cũng tốt, hôm nay cuối cùng cũng tới ngày ta phải c.h.ế.t.
Thân thể ta về sau khỏe mạnh, chắc chắn có thể đuổi kịp nàng.
Nàng… nhất định sẽ đợi ta, phải không?
Bên tai ta vang lên lời mẫu thân từng giảng cho muội muội, kể về nguồn gốc cái tên của ta:
“Nhất dạ sơ đông vũ, tiêu tiêu chẩm thượng minh.”
(*Một đêm đầu đông mưa, lặng lẽ rơi bên gối)
Ồ… phải rồi, muội muội…
Cục ngọc điêu tinh xảo, tiểu oa nhi tinh quái như yêu quái ấy,
văn võ song toàn, tinh thông toán học thiên tượng, ta đã rất lâu không nhớ đến nàng.
Nàng… đã mang theo tiếc nuối, c.h.ế.t trong một trận bạo bệnh khi vừa tròn hai mươi bảy.
-HẾT-