Kẻ đầu tiên tìm đến là cô tiểu thư nhà họ Triệu, tên gọi Triệu Uyển Thanh.
Nàng ta mình mặc lụa là gấm vóc, đầu dắt đầy trâm vàng vòng ngọc, vừa bước qua cửa đã ôm chầm lấy cánh tay Lý Minh Viễn, nũng nịu bảo:
“Anh Minh Viễn, cuối cùng anh cũng khỏi rồi, em đã đợi anh suốt bảy năm trời đấy."
Ta chăm bẵm chàng suốt bảy năm, đổi lại được một câu “cấm được bước qua cửa".
Triệu Uyển Thanh đợi chàng bảy năm, đổi lại là cả một sân đầy hoa thơm cỏ lạ, gấm lụa vây quanh.
Hôm ấy, Lý Minh Viễn lần đầu tiên đặt chân vào nhà bếp, chẳng phải để thăm ta, mà là để sai bảo làm canh tổ yến.
Ta cúi đầu thưa rằng mình không biết làm thứ đồ quý giá của nhà giàu ấy, chàng liền nhíu mày:
“Đến cả tổ yến cũng không biết làm, những năm qua cô hầu hạ kiểu gì thế?"
Thế là ta đi học.
Ta học theo mấy bà v.ú nấu bếp trong phủ, lén lút ra ngoài thỉnh giáo mấy ông thầy già ở tiệm thu/ốc bổ.
Đến khi ta tự tay bưng lên một bát canh tổ yến trông ngon mắt vô cùng, chàng lại chẳng thèm liếc mắt nhìn lấy một cái, bảo rằng Triệu tiểu thư không dùng thứ này, bưng xuống đi.
Bát canh ấy đặt trên bệ bếp cho đến khi nguội ngắt nguội ngơ, ta nhìn trân trân vào nó, chợt nhận ra đôi bàn tay này, đôi bàn chân này và cả mảnh lòng này của mình, tất tất thảy đều đã nguội lạnh tự bao giờ.
Thế nhưng ta vẫn chưa đi.
Ta chẳng có nhà mẹ đẻ để mà về, không có tiền bạc lận lưng, thậm chí đến một cái nghề phòng thân cũng chẳng có — bao nhiêu y thuật ta học được đều chỉ để dùng cho một mình chàng, bước chân ra ngoài thì làm được trò trống gì đây?
Ta không biết.
Bảy năm qua ta sống như một dây tơ hồng, bám c.h.ặ.t lấy thân cây lớn là Lý phủ, rời xa nó chỉ có con đường ch/ết.
Ta không dám đi.
Cho đến ngày hôm nay.
Triệu Uyển Thanh lại đến phủ.
Lần này nàng ta không chỉ ngồi ở phòng khách lớn, mà đi thẳng vào tận sân trong, ngay trước mặt ta mà trao cho Lý Minh Viễn một bức thư.
Lúc ta bưng khay trà bước vào, vừa vặn nghe thấy tiếng nàng ta thỏ thẻ:
“Anh Minh Viễn, anh không thể cứ mãi thế này được.
Giờ anh đã là con trưởng dòng chính nhà họ Lý, phải sánh đôi với bậc tiểu thư môn đăng hộ đối.
Mấy hạng người kia, sớm muộn gì cũng nên đuổi khéo đi cho rảnh mắt về sau."
Lúc đặt khay trà xuống bàn, đôi tay ta khẽ run lên một nhịp.
Lý Minh Viễn đón lấy bức thư, mở ra liếc nhìn vài cái, chợt ngẩng đầu nhìn về phía ta.
Ánh mắt ấy ta đã quá đỗi thân thuộc — đó chính là vẻ thiếu kiên nhẫn, chán ghét mọi thứ cản đường trước mỗi lúc chàng phát bệnh ngày xưa.
“Cô lại đây."
Ta bước lại gần.
Chàng chỉ tay vào bức thư trên bàn:
“Ý của cha là, nay thân phận ta đã khác, cô... không còn thích hợp nữa."
Dừng lại một chút, có vẻ chàng đang cân nhắc câu từ, cuối cùng buông ra một câu:
“Nếu cô bằng lòng ở lại thì làm phận thiếp đi.
Dù sao cũng đỡ hơn là ra ngoài ch/ết đói."
Triệu Uyển Thanh đứng bên cạnh khẽ khúc khích cười.
Tiếng cười ấy tuy không lớn, nhưng lại như cây kim đ.â.m thẳng vào màng nhĩ của ta.
Ta đã đem bảy năm thanh xuân ròng rã luyện thành hai chữ này đây.
Ta không làm ầm ĩ.
Đến cả giọt nước mắt ta cũng không rơi.
Ta chỉ nhìn đăm đăm vào Lý Minh Viễn, muốn từ trong đôi mắt chàng tìm ra chút lòng hổ thẹn hay xót thương dù là nhỏ nhất.
Nhưng trong mắt chàng trống rỗng, chẳng có lấy một thứ gì.
Giống như đang nhìn một kẻ xa lạ qua đường.
Không, thậm chí còn chẳng bằng kẻ xa lạ — kẻ xa lạ ít ra còn khiến chàng nảy sinh lòng hiếu kỳ, còn ta, chẳng qua chỉ là một món đồ cũ kỹ, muốn định đoạt ra sao thì định đoạt.
“Được."
Ta đáp.
Có vẻ chàng không ngờ ta lại cam lòng chấp nhận một cách dứt khoát đến thế, khẽ ngẩn người ra một thoáng, rồi gật đầu, giống như vừa hoàn thành xong một việc công sai chẳng mấy quan trọng.
Triệu Uyển Thanh nũng nịu ôm lấy cánh tay chàng, giọng ngọt sớt:
“Anh Minh Viễn đối xử với kẻ hầu tốt quá, lại còn giữ cho cô ta cái danh phận làm thiếp."
Kẻ hầu.
Ta không phải là thê t.ử của chàng, cũng chẳng phải ân nhân của chàng, mà là kẻ hầu.
Ta bưng khay trà không bước ra khỏi phòng khách lớn, bước chân vững vàng như dẫm trên bông gòn.
Mụ v.ú Vương nhìn thấy ta, liền buông lời mỉa mai, châm chọc:
“Thẩm cô nương này, chuyện của cậu cả cô đừng có nghĩ ngợi nhiều làm gì, phận nam nhi năm thê bảy thiếp là chuyện thường tình.
Huống hồ cái thân phận của cô là hạng gì, được làm thiếp đã là phúc đức ba đời rồi."
Ta trở về gian phòng phụ của mình, bắt đầu thu dọn đồ đạc.
Nải nải quần áo nhỏ thó, chỉ có vài bộ đồ thay giặt, một cuốn sách y đã lật đến rách bươm, và một miếng ngọc bội.
Miếng ngọc bội ấy là di vật duy nhất mẹ để lại cho ta, sắc trắng xanh, mặt sau có khắc một chữ “Chu".
Ta chẳng biết chữ Chu ấy có nghĩa lý gì, cũng chưa từng mở miệng hỏi ai.
Mẹ ta mất sớm, lời trăng trối để lại chẳng được bao nhiêu, duy chỉ có một câu:
“Cất giữ ngọc bội cho kỹ, mai sau ắt có lúc dùng đến.”
Có lúc dùng đến việc gì?
Ta chịu ch/ết chẳng rõ.
Thế nhưng bảy năm qua đã dạy cho ta biết một điều — dù có khốn khó đến đâu, cũng phải chừa cho mình một con đường lui.
Ba năm trước, ta từng cứu một ông lão trên phố, ông ấy bị ngã ngựa gãy chân, chính ta đã dùng phương thu/ốc dân gian để nắn xương cho ông ấy.
Sau khi lành vết thương, ông ấy hỏi ta muốn đi đâu, ta bảo chẳng có nơi nào để về.
Ông ấy liền bảo vậy thì hãy nhớ cho kỹ, mai sau nếu có gặp bước đường cùng không sống nổi, cứ đến Chu gia ở phía nam thành mà tìm ông.
Lúc ấy ta cứ ngỡ ông lão nói lời mê sảng.
Chu gia phía nam thành, ai mà chẳng biết?
Đó là gia tộc hiển hách nhất vùng Giang Bắc này, ruộng đất ngàn mẫu, cửa tiệm san sát khắp các con phố, đến cả quan tri phủ nhìn thấy người đứng đầu Chu gia cũng phải giữ vài phần kính cẩn.
Một lão già gãy chân gầy guộc thì có dây mơ rễ má gì với Chu gia cơ chứ?
Ta chẳng để tâm.
Thế nhưng kể từ đó về sau, mỗi dịp Tết đến xuân về, đều có người mang đến một hộp bánh ngọt kèm theo một tờ giấy hồng điều, trên đó chỉ vỏn vẹn bốn chữ:
“Chu trạch đợi con.”
Năm ngoái, người đến đưa bánh đã thay bằng một bộ gấm vóc sang trọng, ta buột miệng hỏi một câu:
“Lão gia nhà các người rốt cuộc là thần thánh phương nào?"
Người đó chỉ cười trừ, tuyệt nhiên không hé răng.