“Đêm đó là tết Trung thu, Lý Thừa Trạch đã uống rất nhiều rượu.

Khi chàng lảo đảo đẩy cửa phòng ta ra, ta đang ngồi bên cửa sổ thêu khăn tay.

Chàng nhìn ta rất lâu, lâu đến mức ta cứ ngỡ chàng đang nhìn một người nào khác.”

“Thẩm Chiêu Nguyệt."

Chàng gọi tên ta, giọng nói khàn đặc đến lạ lùng, “Có phải nàng căm ghét ta lắm không?"

Chàng tiến lại gần, hơi rượu nồng nặc, nhưng ánh mắt lại tỉnh táo đến đáng sợ.

“Ta cũng không muốn như thế này."

Chàng nói, “Nhưng cứ mỗi khi nhìn thấy nàng, ta lại nhớ đến việc nàng từng suýt nữa đã gả cho kẻ khác.

Ta không chịu đựng nổi."

Chàng đưa tay chạm nhẹ vào gương mặt ta.

“Ta muốn nàng phải quên hẳn kẻ đó đi."

Sau đêm mặn nồng ấy, ta mang long thai.

Nhưng ngay ngày hôm sau, Lý Thừa Trạch đã phải đi xa, lên biên thùy phía bắc để đốc thúc quân sĩ, đi một mạch suốt tám tháng trời.

Khi tin tức ta m/ang t/hai truyền đến biên cương, chàng chỉ gửi về vỏn vẹn một phong thư với bốn chữ:

“Chăm sóc bản thân.”

Không có niềm vui bất ngờ, không có sự mong đợi, ngay cả một lời hỏi han lấy lệ cũng chẳng buồn viết.

Ngày ta trở dạ sinh con, ta bị băng huyết, suýt chút nữa đã mất mạng.

Bà đỡ sợ đến mức mặt cắt không còn một giọt m/áu, hai tay nhuốm đầy m/áu chạy ra ngoài hỏi:

“Giữ mẹ hay giữ con?"

Mẫu thân ta đứng ngoài cửa khóc đến ngất lịm đi.

Cha ta thì quỳ sụp xuống đất dập đầu trước thầy thu/ốc, cầu xin người cứu lấy cả hai, giữ lại cả hai mạng sống.

Còn Lý Thừa Trạch, khi ấy vẫn đang ở nơi biên thùy xa xôi.

Chàng không hề hay biết.

Hoặc giả, chàng cũng chẳng bận tâm.

Đêm đứa trẻ chào đời, cha ta ôm đứa cháu ngoại vào lòng, khóc ròng rã suốt một canh giờ.

Người nói:

“Nguyệt Nguyệt, con yên tâm, cha dù có phải liều cái mạng già này, cũng tuyệt đối không để con và đứa trẻ phải chịu tủi nhục."

Thế nhưng có những chuyện, không phải cứ liều mạng là có thể giải quyết được.

Ví như, Tiền Trầm Chu đã trở về.

Cuối cùng, ta vẫn chọn mặc chiếc áo khoác màu hoa sen vốn bị xếp xó dưới đáy hòm.

Chất vải rất tốt, thêu hoa lan bằng chỉ tơ thượng hạng, cổ áo còn viền một dải lông cáo trắng muốt.

Nhưng chiếc áo này ta may từ ba năm trước, khi ấy ta chưa sinh con, vòng eo còn thon nhỏ hơn bây giờ hai tấc.

Sau khi mặc vào, thân áo bó c.h.ặ.t khiến ta gần như không thở nổi.

Lưu má xót xa đến rơi nước mắt:

“Cô nương, thay bộ khác đi, bộ này chật quá rồi."

“Không thay."

Ta đứng trước gương đồng, b/úi lại mái tóc thật gọn gàng, cài thêm một chiếc trâm vàng ròng có hạt ngọc rủ xuống, “Trận chiến ngày hôm nay, ta không thể thua."

Tên quản gia do Tiền Trầm Chu sai đến đã được mời vào tiền sảnh.

Cha ta, Thẩm Bá Dung, đang ngồi uy nghiêm ở ghế chủ vị, tay bưng chén trà, trên mặt nở nụ cười mà ta đã thấy vô số lần trên chốn quan trường — khách sáo, nhưng lại xa cách ngàn dặm.

Khi ta bước vào, tên quản gia kia đang đứng thẳng lưng, cằm hất lên thật cao, lộ rõ vẻ ngạo mạn theo kiểu “ta đến đây là ban ơn cho nhà ngươi".

Hắn nhìn thấy ta, trước tiên là ngẩn người ra một lát, sau đó khóe miệng nhếch lên một nụ cười đầy ẩn ý.

“Vị này chính là Thẩm cô nương phải không?

Bốn năm không gặp, Thẩm cô nương gầy đi nhiều rồi."

Giọng điệu của hắn giống như đang bố thí, lại càng giống như đang mỉa mai “ngươi xem ngươi đã sa sút đến nông nỗi nào rồi".

Ta không đáp lời, đi tới chiếc ghế bên cạnh cha rồi ngồi xuống.

Lưu má vội vàng dâng cho ta một chén trà nóng, lại lấy một chiếc chăn mỏng đắp lên chân ta.

“Nữ t.ử mới hết ở cữ không được để nhiễm lạnh."

Lưu má nói nhỏ, nhưng âm thanh đủ lớn để cả tiền sảnh đều nghe thấy.

Tên quản gia nghe thấy ba chữ “mới ở cữ", ánh mắt khẽ động, nhưng rất nhanh đã khôi phục lại vẻ cao cao tại thượng như cũ.

“Thẩm lão gia, Thẩm cô nương, thiếp mời của tướng quân nhà ta, để tại hạ đọc cho hai vị nghe nhé?"

Hắn rút từ trong tay áo ra một bức thiếp đỏ rực thếp vàng, mở ra, làm bộ làm tịch tằng hắng một tiếng.

“Tiền phủ kính gửi Thẩm công Bá Dung:

Kể từ khi hai nhà Thẩm Tiền hủy bỏ hôn ước bốn năm trước, tại hạ luôn canh cánh nỗi lòng áy náy.

Năm xưa Thẩm cô nương không chê bai, tại hạ ghi khắc trong lòng.

Nay chính thất của tại hạ là Tống thị Thanh Thanh đã sinh hạ con trai trưởng, việc trong phủ đã an định.

Nghĩ đến tình xưa nghĩa cũ với Thẩm cô nương, nay nguyện nạp nàng làm quý thiếp, chọn ngày lành tháng tốt rước vào cửa.

Đến lúc đó sẽ có trăm hòm sính lễ để tỏ lòng thành ý.

Tiền Trầm Chu kính lạy."

Đọc xong rồi.

Cả gian tiền sảnh im ắng đến mức có thể nghe thấy tiếng than củi nổ lách tách.

Tay cha ta bưng chén trà không hề run phẩm, nụ cười trên mặt không đổi, thậm chí nhịp thở cũng chẳng hề rối loạn.

Người đã làm quan suốt hai mươi năm trên triều đình, sóng gió nào chưa từng chứng kiến?

Nhưng ta biết người đang rất tức giận.

Bởi vì mu bàn tay người đã nổi đầy gân xanh, các đốt ngón tay bóp c.h.ặ.t đến mức trắng bệch.

“Quý thiếp?"

Cha ta cuối cùng cũng lên tiếng, giọng nói thong thả, như thể đang bàn luận một chuyện chẳng liên quan gì đến mình, “Con gái của Thẩm Bá Dung ta, mà phải đi làm quý thiếp cho một tên tướng quân tứ phẩm sao?"

Tên quản gia cười nhạt:

“Thẩm lão gia, lời này không thể nói như vậy được.

Tướng quân nhà ta tuy hiện tại là tứ phẩm, nhưng công lao hiển hách ở biên thùy phía bắc rõ mười mươi ra đó, qua năm mới là được thăng lên tam phẩm rồi.

Hơn nữa, quý thiếp thì vẫn là thiếp, Thẩm cô nương năm xưa vốn có hôn ước trước với tướng quân, chỉ là sau đó gặp chuyện không may mới hủy hôn.

Nay tướng quân niệm tình cũ, bằng lòng nạp nàng làm thiếp, đây chẳng phải là chuyện tốt sao?"

Hắn khựng lại một chút, rồi bồi thêm một câu:

“Dẫu sao cũng còn tốt hơn là phải chịu cảnh phòng không chiếc bóng ở phủ Đại hoàng t.ử chứ?"

Chậu than bỗng nhiên bị đá lật, những viên than đỏ rực, nóng bỏng văng tung tóe khắp nền đất.

Không phải ta đá, mà là cha ta.

Thẩm Bá Dung đã đứng bật dậy.