Ta tên Thẩm Chiêu Ninh, năm nay mười chín tuổi.
Ở kinh thành, chỉ cần nhắc đến tên ta thì chẳng mấy ai nói được một câu tốt đẹp.
Ghen tuông, hung dữ, thù dai, ba thứ ấy ta đều chẳng thiếu.
Bà mối đi ngang qua cửa nhà ta còn phải cố tình đi vòng sang đường khác, chỉ sợ ta bất ngờ lao ra c.ắ.n người.
Cha ta là một lão quân nhân, từng theo tiên đế chinh chiến khắp nơi, trên người đầy thương tích.
Sau khi lập công, ông được phong một tước vị nhàn tản.
Mẹ ta mất từ sớm, cha lại chẳng biết cách nuôi con gái, thế nên từ nhỏ đã coi ta như con trai mà nuôi lớn.
Cưỡi ngựa, b.ắ.n cung, uống rượu, ăn thịt, chẳng có thứ gì ta không biết.
Còn thêu thùa may vá thì một chữ ta cũng chẳng biết làm.
Bởi vậy, người trong kinh thành đều nhận định rằng đời này Thẩm Chiêu Ninh chắc chắn không thể gả đi.
Ta cũng chẳng có ý định lấy chồng.
Cho đến khi một đạo thánh chỉ từ trên trời giáng xuống.
Hôm ấy, ta đang ngồi xổm trong sân gặm đùi gà.
Nội thị bước vào cửa tuyên chỉ, ta chỉ kịp lau đôi tay đầy dầu mỡ lên quần áo, đến tư thế quỳ cũng chẳng ra hình dạng gì.
"Phụng thánh chỉ, ban Thẩm thị Chiêu Ninh làm kế thất của phủ Trấn Bắc tướng quân."
Cha ta đứng bên cạnh nghe xong thì nước mắt giàn giụa, miệng còn lẩm bẩm rằng mộ tổ nhà mình cuối cùng cũng bốc khói xanh.
Ta tiện tay ném chiếc xương gà đi.
Ta nói mộ tổ nhà mình có khi cháy luôn rồi.
Trấn Bắc tướng quân Cố Trường Uyên quanh năm trấn thủ biên cương phía Bắc.
Ba năm trước, chính thất của hắn lâm bệnh qua đời.
Dưới gối hắn có một đứa con trai, năm nay vừa tròn năm tuổi.
Trong phủ hiện giờ do Triệu lão phu nhân, mẹ của hắn, đứng ra quản lý.
Người trong kinh thành đều biết Triệu lão phu nhân thương nàng dâu trước chẳng khác gì con gái ruột.
Phu nhân trước họ Phương, nổi tiếng hiền lương thục đức.
Một kẻ thô lỗ như ta lại đến làm kế thất của người ta, chẳng phải khác nào dê chui vào miệng hổ sao?
Nhưng thánh chỉ đã ban xuống thì không thể chống lại.
Ba ngày sau, ta mặc bộ giá y đỏ thẫm, bước vào phủ tướng quân.
Không có mười dặm hồng trang, cũng chẳng có cảnh khách khứa chật kín cửa nhà.
Kế thất vốn không thể sánh với nguyên phối, chỉ được khiêng một cỗ kiệu nhỏ vào từ cửa hông.
Ta chẳng buồn so đo.
Cửa hông thì cửa hông.
Cửa có nhỏ đến đâu, ta vẫn có thể sống những ngày tháng thật lớn.
Kiệu vừa hạ xuống, chẳng một ai bước ra đỡ ta.
Trong sân đã đứng kín một hàng người, nào nha hoàn, bà t.ử, quản sự, ma ma, đông đến mức chật ních.
Thế nhưng không một ai tiến lên hành lễ.
Tất cả đều nhìn ta từ đầu đến chân, ánh mắt chẳng khác gì đang quan sát một con khỉ.
Ta chẳng thèm để tâm đến bọn họ, cứ thế đi thẳng vào chính sảnh.
Trong chính sảnh, Triệu lão phu nhân đang ngồi đó.
Bà đã ngoài sáu mươi, mái tóc được chải chuốt không một sợi rối.
Trong tay bà lần một chuỗi Phật châu, trên mặt nở nụ cười khiến ta chẳng tài nào hiểu nổi.
Bên cạnh bà là một thiếu phụ hơn hai mươi tuổi.
Dung mạo nàng ta khá xinh đẹp, mặc một bộ đồ màu trắng nhạt, trong tay cầm khăn tay, đôi mắt đỏ hoe như vừa khóc xong.
Về sau ta mới biết nàng ta là biểu muội của phu nhân trước, tên Chu Huệ.
Sau khi phu nhân trước qua đời, nàng ta liền ở lại phủ trong thời gian dài, nói là để giúp chăm sóc cháu trai.
Triệu lão phu nhân chậm rãi lên tiếng:
"Nếu con đã bước vào cửa Cố gia thì phải tuân thủ quy củ của Cố gia."
Ta đứng yên tại chỗ, không nói gì, chờ bà nói tiếp.
"Phu nhân trước, Phương thị, hiền lương dịu dàng, hiếu kính trưởng bối, đối xử t.ử tế với hạ nhân.
"Trên dưới cả phủ không một ai không khen nàng ấy."
Triệu lão phu nhân dừng lại, những hạt Phật châu trong tay khẽ xoay một vòng.
"Con phải học theo nàng ấy."
Mọi người trong phòng đồng loạt nhìn về phía ta, rõ ràng đang chờ ta cúi đầu nhận lời.
Ta bật cười.
"Học nàng ấy chuyện gì?
"Học nàng ấy c.h.ế.t sớm sao?"
Cả căn phòng lập tức rơi vào im lặng.
Một sự im lặng c.h.ế.t ch.óc.
Nụ cười trên mặt Triệu lão phu nhân cứng đờ.
Chuỗi Phật châu trong tay bà cũng dừng lại.
Chiếc khăn trong tay Chu Huệ rơi xuống đất.
Tiếng hít khí lạnh của đám nha hoàn, bà t.ử liên tiếp vang lên.
Ta đảo mắt nhìn quanh một vòng, giọng điệu vẫn bình thản như cũ:
"Ta được thánh chỉ ban hôn mới bước chân vào đây, chứ không phải đến để học theo người đã c.h.ế.t.
"Quy củ ta sẽ giữ.
"Nhưng đó phải là quy củ dành cho người sống."
Sắc mặt Triệu lão phu nhân xanh mét.
Môi bà run lên hai lần, nhưng cuối cùng chẳng thốt nổi một lời.
Ta xoay người định rời đi.
Đến cửa, bước chân ta bỗng khựng lại.
Sau bậc cửa có một đứa trẻ đang ngồi xổm.
Nó gầy nhẳng như một con khỉ nhỏ, quần áo xám xịt, cổ tay áo đã sờn đến mức bung cả chỉ.
Đứa trẻ năm tuổi có đôi mắt vừa to vừa sáng, đang lén lút nhìn vào bên trong.
Thấy ta cúi đầu nhìn xuống, nó giật mình, lập tức co người lùi về phía sau.
Ta ngồi xổm xuống trước mặt nó.
Lúc này ta mới nhìn thấy trên cổ nó có một vết bầm tím.
Ta đưa tay ra.
Nó theo bản năng lập tức giơ cánh tay lên che mặt.
Động tác ấy quá đỗi quen thuộc.
Chỉ những đứa trẻ từng bị đ.á.n.h mới có phản ứng như vậy.
Ta lặng lẽ thu tay về, không chạm vào nó nữa.
"Con tên gì?"
Nó mím c.h.ặ.t môi.
Một lúc lâu sau mới nhỏ giọng đáp:
"Cố Minh Triết."
"Mấy tuổi?"
"Năm tuổi."
Ta đứng dậy rồi quay đầu nhìn về phía chính sảnh.
Triệu lão phu nhân vẫn ngồi ngay ngắn bất động.
Chu Huệ cúi đầu.
Những người đứng đầy trong phòng không một ai nhìn đến đứa trẻ này.
Ngọn lửa trong lòng ta lập tức bùng lên.
Tối hôm ấy, ta chuyển vào đông viện.
Nói là phòng tân hôn, nhưng bên trong ngay cả một món đồ ra hồn cũng chẳng có.
Trên bàn chỉ đặt một ngọn đèn dầu.
Tim đèn đã cháy gần hết mà chẳng ai buồn thay.
Chăn đệm vừa chạm vào đã thấy ẩm ướt, phần vỏ kiều mạch trong gối còn vón thành từng cục.
Hai nha hoàn được phân đến hầu hạ ta, một người tên Xuân Hạnh, người còn lại là Thu Nguyệt.
Xuân Hạnh trông có vẻ thật thà, từ đầu đến cuối chỉ cúi đầu, không dám nói nhiều.
Còn Thu Nguyệt thì liên tục đảo mắt, khóe môi thấp thoáng ý cười, rõ ràng đang chờ xem náo nhiệt.