Ngày thành thân, thím Lâm dẫn theo một đám thím bác trang hoàng căn nhà đỏ rực.
Ta và Phương Hạnh Nhi vừa giúp việc vừa ngươi một viên ta một viên lén ăn kẹo hỷ. Thím Lâm nói kẹo này dùng để ta đổi cách xưng hô, ăn rồi thì phải gọi thúc thúc là cha.
Ta ăn cả một nắm lớn, cho nên đến lúc bái đường, tiếng “cha” của ta vang vừa to vừa giòn.
Tiệc cưới có tám món mặn, tám món rau, đây là lần đầu tiên trong đời ta được ăn một bữa phong phú đến vậy.
Mấy thím vừa nhét thức ăn vào miệng vừa tranh thủ nói chuyện. Vị thím trước kia tới làm mai cho thúc thúc có sắc mặt khó coi nhất, nhỏ giọng lẩm bẩm:
“Để cô nương mười bảy mười tám tuổi trẻ đẹp không cưới, lại đi cưới một bà già mặt vàng hai mươi sáu tuổi. Đầu óc có bệnh hay sao?”
Thím Lâm trừng bà ta:
“Ngày đại hỷ của người ta, không ăn thì về nhà đi.”
Một thím khác vội hòa giải:
“Bà già mặt vàng thì sao? Bà già mặt vàng biết vun vén. Đào muội t.ử có phúc, hai mươi sáu tuổi rồi mà còn kiếm được một hậu sinh khỏe mạnh thế này.”
Bà vừa nói vừa liếc cha:
“Nhìn cánh tay Đại Lương xem, sắp to bằng chum nước nhà ta rồi. Ta thấy tối nay cái giường nhà hắn chắc chắn bị đè sập!”
Nói tới đây, thím Lâm vội bịt tai ta.
Trong lòng ta lẩm bẩm, thím Lâm bịt muộn rồi, ta nghe thấy hết, hơn nữa chiếc giường mới trong phòng cha mẹ là do cha tự tay đóng, chắc chắn lắm, mới không sập.
Một nhà đã đủ người, lòng dạ cũng cùng hướng về một chỗ, cha mẹ bắt đầu dành tiền, xây nhà, cố gắng để ngày nào cũng được ăn thịt, mùa đông trong áo có thể nhét bông mềm.
Khi ấy ta còn nhỏ, chuyện kiếm tiền chưa giúp được bao nhiêu. Mẹ ở nhà may quần áo, may giày, còn cha tới trấn bày hàng bán đồ gỗ.
Cha nói năm mười bốn tuổi người ông đã cao lớn như người trưởng thành, một mình có thể làm bằng cả nhà. Dưỡng phụ dưỡng mẫu bắt đầu sợ, liền đuổi ông ra khỏi cửa.
Ông tìm được một lão thợ mộc, mặc cho người ta đ.á.n.h mắng, làm không công suốt tám năm mới học được nghề.
Năm xuất sư, ông nghe người ta nói thôn Hòe Lý có một đứa trẻ hoang không ai quản, nên đổi sang một họ lớn trong thôn, định an cư ở đây để nuôi ta.
Có lẽ ông trời thấy ông có lòng tốt nên mới để ông gặp mẹ ta, cuối cùng có được cuộc sống có nhà có cửa.
Sạp đồ gỗ của cha đặt trên trấn. Trước kia hai người chưa danh chính ngôn thuận, mẹ ngại tới xem, nhưng sau khi thành thân, mẹ liền dẫn ta đi cùng.
Đồ gỗ cha làm giống hệt con người ông, chắc chắn, giản dị, nhìn lâu không chán.
Người trên trấn đều biết tay nghề của ông, nhưng đồ đạc quá bền, nhà bình thường ba đến năm năm cũng chưa cần mua thêm một món.
Năm trước mẹ nghĩ cách, bảo cha chở một mẻ ghế tới các phiên chợ quanh vùng, nhờ vậy mới kiếm được hơn mười lượng bạc. Năm nay không còn phiên chợ để chạy, mẹ lại nghĩ tới cách khác.
Lúc cưới mẹ, cha tự tay làm nguyên một bộ đồ hồi môn, chạm hoa lựu, chim quấn cành, cả những đứa bé mập mạp.
Mẹ nói sống từng này tuổi chưa từng thấy nhà nào thành thân lại có lễ vật thể diện đến thế.
Bà hỏi cha:
“Sao chàng không làm những thứ như vậy đem bán? Chuyên bán cho những nhà sắp thành thân, với tay nghề của chàng, cả trấn còn ai hơn được?”
Cha gãi đầu:
“Trên trấn không ai mua. Sư phụ ta năm xưa từng thử, làm nguyên một bộ chạm hoa đem bày, đến người hỏi giá cũng không có. Mọi người đều thích mua loại trơn, về nhà tự dán chữ hỷ đỏ lên.”
Sư phụ của cha vốn là thợ trong một cửa hiệu lớn trong thành, vì muốn chăm sóc cha mẹ già nên trở về trấn.
Bộ đồ chạm hoa năm ấy vốn định lấy may khai trương, kết quả bày đến phủ bụi cũng chẳng ai hỏi. Ông tức đến mức từ đó không bao giờ làm đồ chạm hoa bán ở trấn nữa, cha rút kinh nghiệm nên cũng không làm.
Mẹ ngồi xổm trước sạp suy nghĩ suốt một ngày. Ngày hôm sau, bà dẫn ta đi khắp những nhà trong thôn có con trai con gái sắp thành thân.
Trong lúc nói chuyện, kiểu gì bà cũng nhắc tới bộ đồ gỗ chạm hoa trong nhà mình, khen một lượt.
Thím Lâm là người đầu tiên c.ắ.n câu:
“Ta thật chưa từng thấy đồ hồi môn nào khí phái như vậy, nhưng đắt quá, chắc phải mười mấy lượng bạc nhỉ? Có từng ấy tiền còn chẳng bằng để dành cho hai đứa nhỏ làm vốn.”
Mẹ thử hỏi:
“Nếu chỉ mua một đôi rương chạm hoa lựu thì sao? Một lượng rưỡi bạc.”
Mắt thím Lâm lập tức sáng lên:
“Vậy thì mua được! Dù sao cũng phải mua rương, loại trơn cũng mất mấy trăm văn, thêm ít tiền mua một điềm lành, ta chịu.”
Mẹ quay về nói với cha, sai lầm của sư phụ ông năm đó nằm ở việc làm nguyên cả bộ, hơn nữa còn chạm quá đẹp.
Người quê mua đồ gỗ chỉ cầu rẻ và dùng bền, đột nhiên nhìn thấy cả bộ chạm rồng vẽ phượng, đến hỏi giá cũng không dám, sợ một câu trả lời đã dọa c.h.ế.t mình.
Nhưng nếu chỉ đặt bên sạp một hai món nhỏ như rương hoa lựu, thùng con cháu, những nhà có chút của cải ngược lại sẽ dám ghé lại nhìn.
Cha nửa tin nửa ngờ, nhưng mẹ bảo làm thì ông làm.
Mẹ cũng không để ông đứng bán mà tự bê một chiếc ghế con ngồi cạnh sạp, đích thân chọn khách.
Một hôm, có một đại thẩm tóc chải bóng loáng, quần áo vừa mới vừa sạch sẽ đi ngang qua. Bà ấy đang nói với người đi cùng, giọng vang vang:
“Con gái ta xuất giá, ta phải lên trấn sắm cho nó mấy món thật tốt làm của hồi môn. Con rể ta là con một, trong nhà lại nhiều ruộng, không thể để thông gia coi thường.”