30
Hôm sau, Tiết Phỉ về nhà thật sớm, xách một vò rượu đi thẳng vào phòng ngủ.
"Rượu hợp cẩn." Chàng vỗ vỗ chiếc bình bạch ngọc trên bàn, "Trúc diệp thanh ba lần chưng ba lần ủ, hồi ở Lương Châu ta quen uống loại này, lúc ấy cứ nghĩ về nhà sẽ uống cùng nàng, ai ngờ muộn lâu đến vậy."
Ta đóng cửa lại bước tới, ngồi xuống đối diện chàng, nhấc vò rượu rót hai chén, thứ rượu màu hổ phách sóng sánh trong ánh nến những vụn sáng li ti.
Ta nâng chén của mình lên, Tiết Phỉ cũng nâng chén, lúc hai cánh tay đan qua nhau, vải nơi cổ tay áo khẽ cọ vào nhau, ta ngửi thấy mùi trầm hương trên cổ tay chàng hòa cùng hương trúc diệp thanh thanh liệt.
"A Tễ," ta bưng rượu chưa vội uống, nghiêm túc nhìn chàng, "sau này chàng còn đi nữa không?"
Tiết Phỉ nhìn thẳng vào mắt ta qua hai cánh tay đan chéo, ánh nến nhảy trong đồng t.ử chàng: "Đi. Trước nàng nói muốn chu du thiên hạ, chúng ta cùng đi."
Ta nhìn chàng mấy nhịp thở, xác nhận chàng nói thật, mới cong khóe môi uống cạn chén rượu.
Trúc diệp thanh vào miệng thì êm mà hậu lại nồng, ta sặc ho hai tiếng, Tiết Phỉ lập tức đưa khăn tới, ta xua tay đẩy ra, tự lau khóe miệng: "Ta tập dần, sau này theo chàng đi Lương Châu, rượu bên ấy chắc còn nặng hơn."
Tiết Phỉ nhìn gương mặt ta ửng đỏ vì hơi rượu, chợt đưa tay kéo cả người lẫn chén rượu vào lòng, cằm tựa lên đỉnh đầu ta, khẽ nói: "A Uẩn, thứ ta nợ nàng đâu chỉ một chén rượu."
Ta rúc trong lòng chàng không giãy, tai áp vào n.g.ự.c chàng nghe tiếng tim đập vững vàng mạnh mẽ dội vào l.ồ.ng xương sườn: "Vậy chàng cứ trả từ từ, ngày còn dài."
Ngọn nến bên cửa sổ lay một cái, hắt bóng hai người chồng lên nhau lên tường, hòa thành một mảng tối ấm áp.
31
Mùa thu kinh thành năm ấy tới đặc biệt sớm.
Ngày sương giáng, ta đang ngồi dưới hiên phơi hồng khô, chợt nghe tiền viện vang lên một tràng tiếng chân gấp gáp, tiếp đó quản gia lăn lê bò toài xông vào nội viện, mặt trắng bệch như tờ giấy.
Trong lòng ta thắt lại, chẳng lẽ A Tễ gặp chuyện.
"Trong... trong cung có người tới, nói bệ hạ... bệ hạ băng hà rồi!"
Ta thở phào một hơi.
Tin tới không một dấu hiệu báo trước, mọi chuyện nhanh và gấp hơn ta tưởng.
Những ngày ấy hướng gió trong cung vốn đã quái lạ, nửa tháng trước Quý phi cáo bệnh đóng cửa cung không ra, đến buổi học sáng của Cửu hoàng t.ử cũng ngừng.
Bên bộ Binh liên tiếp thay ba vị chủ sự, lệnh điều động bay ra bay vào như bông tuyết.
Còn Tiết Phỉ thì đã năm ngày liền không thấy bóng.
Lúc ta chạy tới tiền sảnh, Tiết Phỉ đã ở đó.
Chàng mặc một bộ áo gai trắng, mũ tang buộc ngay ngắn, đứng trước đám gia nhân hoảng loạn đầy nhà, sống lưng thẳng như cây tùng, gương mặt bình thản.
"Cuống cái gì." Chàng cất tiếng, giọng không cao không thấp, nhưng át cả tiếng ồn ào khắp sân, "Bệ hạ băng hà, cả nước cùng tang, nhà họ Tiết phải làm gì thì làm nấy. Lập linh đường lên, phát tang phục xuống, đóng cửa tạ khách ba ngày, đợi cáo phó chính thức từ trong cung."
Chàng quay đầu nhìn ta một cái, ánh mắt dừng trên mặt ta một nhịp thở, rồi khẽ gật đầu.
Ta dằn xuống nhịp tim đang đập loạn, xoay người sai a hoàn đi mở kho lấy vải trắng, lúc đi ngang qua chàng, cổ tay áo chạm vào mu bàn tay chàng, lạnh ngắt.
32
Năm ngày sau, trong cung chính thức phát tang.
Ta cùng Tiết Tễ vào cung, bước vào điện Thái Cực nơi thâm cung, khắp nơi một màu trắng tang.
Triều thần quỳ rạp đen đặc một sân, hoàng hậu ngồi sau bức rèm bên điện, dung nhan tiều tụy, dưới mắt một quầng thâm nặng.
Người không có con, tiên đế đi đột ngột, trong di chiếu lại chẳng một chữ nhắc tới ngôi trữ.
Trong cung chỉ còn hai vị hoàng t.ử đủ tư cách kế thừa: Cửu hoàng t.ử do Quý phi sinh, mới bảy tuổi; và Lục hoàng t.ử do phế phi sinh, mười một tuổi, lúc này đang quỳ trong đám đông, bờ vai nhỏ khẽ run.
Ta quỳ trong hàng nữ quyến, ánh mắt xuyên qua từng lớp bóng người lay động, rơi xuống Tiết Phỉ trên nền gạch vàng trước điện.
Chàng quỳ cùng toàn bộ ngoại thần bên kia ngưỡng cửa, áo gai mũ trắng cúi đầu, trông chẳng khác gì những gương mặt bi thương xung quanh.
Ta biết, ván cờ thật sự sau tang lễ này, vừa mới bắt đầu hạ quân.
33
Cuộc tranh đoạt nơi triều đường x.é to.ạc cái vẻ bình lặng ngay trong buổi đại tế trước linh cữu ngày đầu tiên.
Mẫu tộc Lục hoàng t.ử tuy đã thất thế, nhưng trong triều vẫn còn gốc rễ, mấy vị lão thần quỳ trước linh cữu gào khóc "nước không thể một ngày không vua", mà trong lời ngoài ý đều xoay quanh chuyện Cửu hoàng t.ử tuổi nhỏ và thể chất yếu.
Dẫn đầu là Lễ bộ thị lang Trương Ung, một lão thần đã đứng trong hàng cửu khanh từ thời tiên đế còn tại vị, trước mặt văn võ đầy điện mà nước mắt nước mũi giàn giụa: "Cửu hoàng t.ử còn nhỏ, thân thể lại yếu, sao gánh nổi trọng trách nặng nghìn cân này? Lục hoàng t.ử tuy không phải đích xuất, dẫu sao cũng lớn hơn mấy tuổi, lại từng hầu bệnh tận hiếu bên gối tiên đế..."
Lời lão chưa dứt, sau bức rèm bên điện đã vang lên một tiếng "hắc" rất khẽ.
Quý phi từ sau rèm chậm rãi bước ra, một thân cung trang trắng thêu chỉ bạc, trên tóc chỉ cài duy nhất một cây trâm bạch ngọc, dung nhan gầy guộc mà ánh mắt sáng như đuốc.
"Cái 'hầu bệnh tận hiếu' mà Trương đại nhân nói là chỉ chuyện nào?" Giọng Quý phi không cao, nhưng ai trong điện cũng nghe rõ mồn một, "Là chỉ bát t.h.u.ố.c Lục hoàng t.ử bưng bên giường bệnh tiên đế, hay chỉ bát canh sâm mà phế phi năm xưa 'vô ý' hất đổ sau bức bình phong?"
Cả điện lặng ngắt.
Sắc mặt Trương Ung biến đổi đột ngột: "Nương nương xin thận trọng lời nói!"
"Thận trọng?" Quý phi cụp mắt nhìn tràng hạt nơi cổ tay mình, chậm rãi xoay nửa vòng, "Bổn cung ở trong cung hơn mười năm, lời gì nên nói lời gì không nên nói, trong lòng còn rõ hơn Trương đại nhân. Nhưng hôm nay trước linh cữu tiên đế, có mấy chuyện chẳng ngại bày hết ra mà nói."
Người lấy từ trong tay áo ra một phong thư đã ố vàng, mở ra đọc: "Ngày thứ tư trận Lương Châu, quân đồn trú Thanh Thạch Pha nhận mật lệnh của bộ Binh 'đóng nguyên tại chỗ, không được ứng cứu'. Trương đại nhân, chữ ký dưới đạo mật lệnh này, có phải b.út tích của vị Chu Sùng Chu thị lang dưới trướng ngài không?"