Ba tháng sau nữa, bà ta trở thành kế mẫu của ta.
Tháng cuối cùng trước khi mất, mẫu thân nhìn hai người họ ngày một ân ái, hoàn toàn chẳng bận tâm đến cảm nhận của bà, đau lòng đến mức không thể thốt nên lời, chỉ biết nhìn ta mà rơi nước mắt.
Cảnh tượng ấy như được khắc bằng sắt nung vào tận đáy lòng ta suốt hai năm trời.
Ta nhìn thẳng vào mắt phụ thân, bình tĩnh đáp:
“Đương nhiên là oán.”
Bàn tay phụ thân run lên, tờ thư hòa ly trong tay cũng bị vò đến nhăn nhúm.
Sau khi bình ổn tâm trạng, ta nhàn nhạt nói:
“Phụ thân, con muốn chuyển đến nhà ngoại tổ phụ.”
Ngôi nhà này đã quá ô uế, ta không muốn ở lại thêm một khắc nào nữa.
Toàn thân phụ thân khẽ run.
“Con thật sự muốn đến chỗ ngoại tổ phụ?”
“Vâng.”
“Nhưng ngoại tổ phụ con… bao năm nay vẫn luôn trách ta, ta sợ ông ấy…”
“Mấy hôm trước ngoại tổ phụ đã nhắn người mang lời đến. Chỉ cần con bằng lòng trở về, ông sẽ lập tức phái người đến đón.”
Phụ thân im lặng.
Lý thị ngập ngừng hồi lâu rồi mới lên tiếng:
“Khanh Từ à, con đến nhà ngoại tổ phụ chúng ta không ngăn cản… nhưng số của hồi môn ấy vốn là của hồi môn của mẫu thân con, vẫn nên để lại Cố phủ thì hơn.”
Ta cười mỉa, chẳng buồn đáp, xoay người bước đi.
Vừa tới cửa, Lý thị bỗng gọi giật lại.
“Khanh Từ! Muội muội con… bây giờ nếu gả sang Tạ gia mà không có của hồi môn thì sau này sẽ rất khó sống…”
Ta không quay đầu, giọng lạnh nhạt như đang nói với một người xa lạ.
“Nàng ta đã tự chọn con đường của mình, vậy thì tự mình gánh lấy.”
Ra khỏi cổng Cố phủ, một cỗ xe ngựa đã đợi sẵn ở đầu ngõ.
Rèm xe được vén lên, để lộ gương mặt đầy nếp nhăn nhưng ánh mắt vẫn sáng quắc của ngoại tổ phụ.
“Khanh Từ, lên xe.”
Ông gọi nhũ danh của ta, giọng nói khàn khàn đầy phong sương.
Sống mũi ta chợt cay xè, vội bước nhanh tới, vịn cửa xe rồi leo lên.
Trong xe ấm áp dễ chịu, lò sưởi bằng đồng đang đốt than ngân sương, trên chiếc bàn nhỏ còn đặt đĩa bánh quế vừa mới ra lò.
Ngoại tổ phụ gầy đi rất nhiều, nhưng tinh thần vẫn quắc thước, đôi mắt vẫn sắc bén như chim ưng.
Ông nhìn ta, chỉ lặng lẽ vỗ nhẹ lên mu bàn tay ta.
“Sau này chuyện làm ăn, ta sẽ đích thân dạy con.”
Ta khẽ gật đầu, nước mắt cuối cùng cũng rơi xuống.
Ngoại tổ phụ họ Thẩm, thuở trẻ là một thương nhân buôn vải nổi danh khắp vùng Giang Nam.
Mẫu thân là con gái duy nhất của ông, từ nhỏ đã theo ông xuôi ngược khắp nơi, tinh thông sổ sách, kinh thương, quản lý cửa hiệu.
Nếu năm ấy không gặp phụ thân trên đường vào kinh ứng thí, có lẽ bà đã kế thừa gia nghiệp Thẩm gia, trở thành đại thương nhân giàu có một phương.
Ngoại tổ phụ vẫn luôn phản đối cuộc hôn nhân ấy.
Ông chê phụ thân nghèo, chê ông tâm thuật bất chính, càng chê ông sau này luồn cúi chốn quan trường, đ.á.n.h mất khí tiết của người đọc sách.
Nhưng mẫu thân quyết tâm xuất giá, ngoại tổ phụ không lay chuyển được, đành lấy nửa gia sản làm của hồi môn, lại dặn bà nhất định phải giữ kỹ khế đất, khế điền để chừa đường lui cho bản thân.
Mẫu thân đã làm đúng như vậy.
Bà tính đến mọi chuyện, chỉ không ngờ mình lại ra đi sớm đến thế.
Xe ngựa rời khỏi kinh thành, men theo quan đạo xuôi về phương nam.
Ta vừa ăn bánh quế hoa vừa ngắm cảnh ngoài cửa sổ, nhìn tường cao nhà lớn của kinh thành dần biến thành những thôn xóm nơi ngoại ô, rồi tiếp tục hóa thành núi xanh nước biếc nối liền bất tận.
Bảy ngày sau, chúng ta mới đến phủ đệ của Thẩm gia ở Giang Nam.
Tòa trạch viện nằm ngoài thành Tô Châu, tường trắng ngói đen, phía sau là một con sông nhỏ uốn lượn, hai bên bờ trồng đầy liễu rủ, gió thổi qua làm cành liễu khẽ chạm mặt nước, yên bình như một bức họa.
Ngoại tổ phụ chất nửa thư phòng đầy sổ sách của Thẩm gia, bản đồ thương lộ và sổ thu chi của các cửa hiệu, bắt ta mỗi ngày đọc hai canh giờ.
Thời gian còn lại, ông dẫn ta đến bến tàu xem hàng hóa bốc dỡ, đến cửa hiệu tơ lụa xem chất lượng vải vóc.
Mọi điều ta đều cẩn thận ghi chép vào cuốn sổ nhỏ mang theo bên mình.
Thời gian trôi rất nhanh, chớp mắt đã ba tháng.
Trong khoảng thời gian ấy, tin tức từ kinh thành cũng lần lượt truyền đến.
Tạ Trường Hoài vẫn cưới Cố Uyển Như.
Nghe nói ngày thành thân vô cùng đạm bạc, Tạ gia ngay cả sính lễ cho ra hồn cũng không chuẩn bị nổi.
Còn Cố gia chỉ miễn cưỡng chuẩn bị cho Cố Uyển Như hai rương của hồi môn sơ sài, chẳng qua chỉ là vài chiếc vòng bạc, trâm cài cùng mấy cây lụa, chưa bằng một phần mười của ta năm xưa.
Hôn lễ tổ chức vội vàng, ngay cả tiệc cưới cũng phải ghi nợ.
Khách khứa thưa thớt, nhiều người ăn xong liền kiếm cớ cáo từ.
Sau khi thành thân, cuộc sống của Cố Uyển Như ở Tạ phủ cũng chẳng dễ chịu.
Tạ Trường Hoài vì chuyện kia mà mất hết thể diện, lại bị ta mang đi toàn bộ của hồi môn, gia sản gần như trống rỗng, tính tình ngày càng nóng nảy.
Hắn bắt đầu chìm trong men rượu.
Mỗi lần say liền chỉ vào Cố Uyển Như mà mắng:
“Đồ sao chổi!”
“Nếu không phải nàng quyến rũ ta, Cố Khanh Từ đã không hòa ly, số của hồi môn kia cũng chẳng bị mang đi!”
Ban đầu Cố Uyển Như còn nhẫn nhịn, cẩn thận hầu hạ.
Thế nhưng nàng ta đang mang thai, ngày nào cũng phải đối mặt với một người chồng say khướt cùng một Tạ phủ nợ nần chồng chất, cuộc sống chẳng khác nào ngồi trên đống lửa.
Ít ngày sau, ta lại nhận được một bức thư.
Lần này là thư của phụ thân.
Trong thư nói Lý thị và Cố Uyển Như đã trở mặt.
Lý thị chê nữ nhi gả vào một Tạ phủ chỉ còn cái vỏ rỗng.
Cố Uyển Như lại trách Lý thị không chịu giúp đỡ chuyện tiền bạc.
Hai mẹ con cãi nhau ầm ĩ ở Cố phủ, còn đập vỡ mấy chiếc bình hoa.
Cuối thư, phụ thân hỏi ta ở Tô Châu có sống tốt không, dặn ta chăm sóc ngoại tổ phụ vì tuổi ông đã cao.
Cuối cùng, ông còn ngập ngừng viết thêm một câu:
“Nếu mấy cửa hiệu do mẫu thân con để lại có lúc xoay xở không kịp, phụ thân vẫn còn dành dụm được chút tiền riêng…”
Ta gấp lá thư lại, cất vào hòm rồi không hồi âm.
Chỉ riêng của hồi môn mẫu thân để lại cộng thêm gia sản của ngoại tổ phụ cũng đủ để Thẩm gia được xưng là giàu có bậc nhất một phương.
Ta dư dả vô cùng, chẳng cần đến chút tiền riêng ấy.
…
Lại thêm hai tháng nữa trôi qua.
Trong thành Tô Châu bắt đầu lan truyền một tin đồn.
Người ta nói vị thế t.ử của Tạ gia không còn khả năng nối dõi.
Chuyện ấy truyền khắp kinh thành.
Tạ Trường Hoài tức đến mức đập phá gần nửa Tạ phủ, sau đó còn mời thái y đến khám.
Khám xong, thái y chỉ lắc đầu thở dài rồi lặng lẽ rời đi.
Tuy không nói một lời, nhưng ai cũng hiểu điều đó có nghĩa gì.
Khi nghe tin này, ta đang vuốt ve một cây gấm hoa vân mây màu đỏ thắm, động tác chợt khựng lại.
Chuyện này… là do chính tay ta sắp đặt.
Ba tháng trước, khi rời khỏi Tạ phủ, ta đã cho người âm thầm tung tin rằng Tạ Trường Hoài vì ăn nhầm ớt và mù tạt nên đã tổn thương căn cơ.
Ban đầu chỉ là những lời xì xào nơi đầu đường cuối ngõ.
Sau đó chẳng biết từ bao giờ càng truyền càng rộng, đến cả tiên sinh kể chuyện trong trà lâu cũng bịa thành giai thoại:
“Thế t.ử ham ăn chuốc họa, một bát mù tạt tuyệt đường con cháu.”
Thực ra chuyện ấy chẳng liên quan gì đến mù tạt.
Mọi căn nguyên đều bắt đầu từ thứ độc mà Cố Uyển Như hạ.
Ban đầu Tạ Trường Hoài không để tâm.
Nhưng khi lời đồn truyền đến tai hắn, chắc chắn hắn sẽ đi tìm thái y.
Cuối cùng, Cố Uyển Như và Tạ Trường Hoài cũng trở mặt.
Bởi chuyện Tạ Trường Hoài không thể sinh con đã được chứng thực.
Nếu vậy, đứa trẻ trong bụng Cố Uyển Như tuyệt đối không thể là con của hắn.
Dù Tạ Trường Hoài có ngu ngốc đến đâu, lúc ấy cũng phải nhận ra có điều bất thường.
Hắn lập tức sai người điều tra.
Không tra thì thôi, vừa tra đã phát hiện Cố Uyển Như từng tư thông với một tên lái buôn d.ư.ợ.c liệu họ Triệu ở ngoài thành Dương Châu.
Khi Tạ Trường Hoài tìm được người ấy, hắn đang trốn nợ trong một ngôi miếu hoang ngoài thành.
Tạ Trường Hoài bắt người về phủ tra khảo.
Tên lái buôn sợ đến hồn bay phách lạc, lập tức khai sạch mọi chuyện.
Trong cơn giận dữ, Tạ Trường Hoài ra lệnh c.h.é.m c.h.ế.t hắn ngay tại chỗ.
Còn Cố Uyển Như bị Tạ Trường Hoài đ.á.n.h gãy một cánh tay, cuối cùng vì mất m.á.u quá nhiều mà c.h.ế.t.
Về phần Tạ Trường Hoài, hắn cũng bị kết tội cố ý sát hại thê t.ử, bị xử trảm vào mùa thu.
Ta lặng lẽ ngắm dãy núi xanh và dòng nước biếc phía xa.
Núi cao vời vợi.
Bầu trời xanh thẳm.
Nhạn trời tung cánh bay.
Lá đỏ phủ kín cả núi rừng.
Hết.