Người nhìn ta thật lâu rồi chậm rãi nói: “Trước khi g.i.ế.c một người, con phải tự hỏi mình ba lần, người trước mắt này có thật sự đáng c.h.ế.t hay không.”
“Nếu cả ba lần con đều có thể trả lời rằng hắn đáng c.h.ế.t, khi ấy mới được phép rút kiếm.”
“Vô Ý, con có thể làm được không?”
Khi ấy ta chẳng chút do dự, lập tức đáp: “Đương nhiên con có thể.”
Sư phụ nghe xong chỉ thở dài thật lâu.
Người nhìn núi xa rồi nói: “Mặc Môn chúng ta giảng kiêm ái phi công, nhưng cuối cùng con người vẫn chẳng thể yêu hết tất cả chúng sinh, cũng chẳng thể ngăn được mọi cuộc chiến trong thiên hạ.”
“Đạo Sở Mặc của Đặng Lăng thị đã rất lâu không còn người tiếp tục bước đi, vi sư cũng chẳng biết con đường sau này của con rốt cuộc đúng hay sai, chỉ mong con luôn nhớ kỹ một điều.”
“G.i.ế.c một người là để một trăm người khác có thể tiếp tục sống.”
“Trước khi rút kiếm, con nhất định phải suy nghĩ thật rõ, sau khi con hành hiệp trượng nghĩa, cuộc sống của bách tính sẽ trở nên tốt đẹp hơn hay lại càng khổ sở hơn.”
“Nếu gánh nổi hậu quả ấy, con mới có tư cách g.i.ế.c người.”
Ta ghi nhớ lời sư phụ, từ biệt người rồi một mình xuống núi, chẳng khác nào một thanh trường kiếm vừa rời khỏi vỏ, một khi đã xuất thế thì nhất định phải nhìn thấy m.á.u.
Người đầu tiên ta g.i.ế.c chính là Huyện thừa Nam Dương.
Khi thu thuế, hắn cố ý giở trò gian lận trên cân, còn ngang nhiên đá đổ túi lương thực của một lão nông nghèo khó.
Ta từ trên cành liễu nhẹ nhàng đáp xuống, một kiếm đ.â.m thẳng ra ngoài, đúng lúc một chiếc lá liễu cũng chậm rãi rơi xuống bên cổ hắn, nơi ấy chỉ để lại một đường m.á.u mảnh như tơ.
Ngay ngày hôm sau, thuế lương thực của toàn huyện lập tức được giảm xuống ba phần.
Lần thứ hai, ta một mình g.i.ế.c ba mươi bảy tên sơn phỉ ở vùng Lũng Tây.
Bọn chúng chuyên chặn đường cướp thương nhân, lại từng sát hại không ít tiêu sư đi qua.
Nửa đêm hôm ấy, ta một mình lẻn lên sơn trại, đến khi trời sáng, lá liễu đã phủ khắp cả núi.
Từ đó về sau, con đường buôn bán ở nơi ấy lại được khai thông, bốn phương dần trở về bình yên.
Dần dần, người c.h.ế.t dưới kiếm ta nhiều đến mức ngay cả chính ta cũng chẳng còn nhớ rõ từng gương mặt.
Có hòa thượng xấu trong chùa, đạo sĩ chuyên đi lừa tiền, địa chủ ác bá, tham quan ô lại, còn có chẳng biết bao nhiêu tên hái hoa tặc chuyên làm hại nữ t.ử nhà lành.
Gian tà trong thiên hạ dường như đời đời đều cùng một bộ mặt, còn khổ nạn của người đời lại tựa như mãi mãi chẳng có lúc kết thúc.
Cuối cùng, thanh kiếm trong tay ta cũng một đường g.i.ế.c đến tận Kim Loan điện.
Bên cạnh hoàng đế hộ vệ vô cùng nghiêm ngặt, ta âm thầm ngồi rình suốt tròn một tháng vẫn chẳng tìm ra thời cơ thích hợp để ra tay.
Trong suốt một tháng ấy, ngày nào Tạ Minh Lang cũng ngồi phê tấu chương đến tận canh ba mới chịu nghỉ.
Ta từng nghĩ sẽ chờ lúc hắn dùng bữa rồi bất ngờ hành thích.
Nhưng hắn chỉ vội vàng ăn được vài miếng, còn chưa kịp uống hết chén trà đã lập tức cầm lên một bản phương án điều phối cứu nạn thủy tai để tiếp tục xem xét.
Ta lại nghĩ hay là chờ đến lúc hắn ngủ rồi mới ra tay.
Nhưng tiếng lật trang giấy cùng tiếng b.út viết trong đêm thật sự quá dễ khiến người ta buồn ngủ, đến cuối cùng ta đã ngủ quên trên xà nhà mà Tạ Minh Lang phía dưới vẫn còn ngồi xử lý chính vụ.
Ta còn nghĩ nếu hắn triệu phi tần thị tẩm hoặc ra ngoài cung vui chơi, khi ấy chắc hẳn sẽ có cơ hội.
Kết quả tìm khắp hậu cung cũng chẳng thấy nổi một phi t.ử, mà bản thân hắn lại gần như chẳng chịu bước chân ra ngoài.
Ta ngồi trên đầu tường cung điện, tuyệt vọng nhìn ánh đèn trong Ngự thư phòng sáng suốt đêm, nghĩ mãi vẫn chẳng thể hiểu nổi.
Một người làm hoàng đế, sáng dậy còn sớm hơn gà, đêm ngủ còn muộn hơn ch.ó, việc làm thì nhiều hơn trâu, đồ ăn lại chẳng ngon bằng heo.
Rốt cuộc hắn đang mưu cầu thứ gì vậy? Chẳng lẽ làm công việc này thật sự vui đến thế sao?
Ta chỉ đứng nhìn thôi đã cảm thấy chẳng vui vẻ gì rồi!
Rất nhiều lần ta đã muốn bất chấp tất cả mà trực tiếp xuống tay, nhưng mỗi khi chuẩn bị hành động, lời sư phụ nói trước lúc ta xuống núi lại bất giác vang lên trong lòng.
Mạt đế của tiền triều có thật sự đáng c.h.ế.t hay không?
Ông là người tính tình khoan hậu, lòng dạ nhân từ, chẳng nỡ tùy tiện g.i.ế.c người, lại đầy bụng văn chương, thơ phú đều tinh thông.
Nhưng khi Đại Hy còn tồn tại, thiên hạ liên tiếp trải qua ba năm thủy tai, ba năm đại hạn rồi lại ba năm nạn châu chấu, bách tính phải lưu ly thất sở, khắp nơi đều chìm trong loạn lạc.
Trong những ngày ấy, cữu cữu vẫn có thể ôm ta trên đầu gối rồi than phiền rằng bánh đường hôm nay của Ngự thiện phòng không đủ ngọt.
Vậy Tạ Minh Lang có đáng c.h.ế.t hay không?
Hắn từng khởi binh phản lại Đại Hy, chiến hỏa bởi vậy lan khắp thiên hạ, trên đường đi x.á.c c.h.ế.t nằm đầy đồng.
Nhưng Giang Nam gặp thủy tai, hắn lập tức mở kho phát lương cứu tế, Tây Bắc gặp đại hạn, hắn hạ chỉ miễn thuế, những người vốn sẽ c.h.ế.t đói trong những năm cuối Đại Hy cuối cùng lại có thể sống sót dưới thời hắn cai trị.
Ta nghiến răng, không ngừng tự nhủ trong lòng rằng con người rồi cũng sẽ thay đổi, Đường Minh Hoàng năm xưa chẳng phải cũng từng tạo nên thịnh thế Khai Nguyên, cuối cùng lại trở thành vị quân vương khiến hậu thế tiếc nuối hay sao?
Đã là hoàng đế, sớm muộn gì cũng phải ham ăn hưởng lạc, hồ đồ thất đức, ta cứ kiên nhẫn chờ là được!
Chỉ cần có một ngày Tạ Minh Lang lộ ra dù chỉ một chút dấu hiệu muốn trở thành hôn quân, ta nhất định sẽ lập tức rút kiếm g.i.ế.c hắn.
Thế là những ngày sau đó, Tạ Minh Lang ở phía dưới cặm cụi phê tấu chương, còn ta ngồi trên xà nhà cũng cặm cụi mài kiếm.