“Chẳng cần bọn họ hỏi gì, ông đã giới thiệu người, mọi tình hình trong thôn cũng được giải thích rõ ràng, ngay cả khi nào lúa mì xuân có thể thu hoạch, cừu nuôi tập thể của thôn khi nào có thể bán được giá tốt, ông cũng chẳng hề giấu giếm chút nào.”

Vô cùng minh bạch.

Chưa đi đến cuối thôn, nhóm người ngoại lai như Vương Mạn Vân đã nắm rõ mười mươi tình hình của cả thôn Sa Đầu.

Đi một lát, họ nhìn thấy một căn hầm lò rất nhỏ, lại còn rách nát.

Gần cửa hầm chất rất nhiều rơm rạ, trông như vừa được lôi ra phơi.

“Căn hầm lò này có từ lâu rồi, cũng phải hơn trăm năm rồi đấy.

Năm đó điều kiện có hạn nên đào không sâu, sau này thì bị bỏ hoang, mãi cho đến khi thôn chúng tôi xuất hiện ‘người giữ thôn’.

Có người giữ thôn cha mẹ vẫn còn sống, có người là trẻ mồ côi.

Nếu là trẻ mồ côi, chúng tôi sẽ sắp xếp cho họ ở đây.”

Trưởng thôn thấy ánh mắt của nhóm Vương Mạn Vân dừng lại ở căn hầm lò rách nát, không chỉ chủ động giải thích mà còn dẫn mọi người đi về phía đó.

Dân làng đi theo quá đông, ông quay đầu dặn dò những dân làng đi cùng mau ch.óng dừng lại tại chỗ.

Người đông như vậy, kéo hết lại đây nhỡ làm sập hầm thì sau này người giữ thôn sẽ phải đến ở nhờ từng nhà một.

Dân làng nghe vậy, không ít người vội vàng dừng bước.

Hầm lò ở miền Tây, trước cửa mỗi nhà đều có một khoảng đất trống kiên cố để phơi lương thực.

Những gia đình có điều kiện tốt hơn sẽ xây tường rào quanh khoảng đất trống, biến nó thành sân nhà mình; những nhà điều kiện kém hơn thì cứ để trống như vậy, không ảnh hưởng đến việc sử dụng.

Trước cửa căn hầm lò mà nhóm Vương Mạn Vân đang đi tới chính là để trống như thế.

Nhưng khoảng đất trống hơi nhỏ một chút.

Không ít dân làng cũng không đi sát theo mà tự tìm chỗ ngồi xuống, hoặc là ngồi xổm nói chuyện phiếm.

Thời tiết này, công việc hằng ngày của bọn họ cũng chỉ là ra đồng xem tình hình lúa mì mọc ra sao.

Dù mọc tốt hay xấu thì cũng chẳng có cách nào, tất cả trông chờ vào ông trời.

Vương Mạn Vân biết ‘người giữ thôn’ nghĩa là gì.

Nghe lời trưởng thôn, bà khẽ hỏi một câu:

“Người giữ thôn đời này là trẻ mồ côi sao?”

“Đúng vậy, không có tên chính thức, chúng tôi đều gọi nó là Hỷ Oa.”

Trưởng thôn kiểm tra đống rơm rạ phơi trước cửa hầm trước, thấy không có vấn đề gì mới trả lời câu hỏi của Vương Mạn Vân.

“Là con trai hay con gái?”

Vương Mạn Vân động tâm tư.

“Con gái.”

Trưởng thôn đẩy cánh cửa hầm khép hờ ra, bên trong tối om, không nhìn rõ lắm, ông trực tiếp gọi vào bên trong một tiếng:

“Hỷ Oa, hôm nay có ai đưa đồ ăn cho cháu chưa?”

Không có tiếng trả lời.

Nhóm Vương Mạn Vân cũng tò mò nhìn vào bên trong.

Nhưng ánh sáng bên trong quá tối, mờ mờ ảo ảo không thấy rõ cái gì, nên cũng không biết Hỷ Oa có ở đó không.

“Chắc là Hỷ Oa không có ở đây rồi.”

Trưởng thôn cũng không thắp đèn mà xoay người đi ra khỏi hầm.

Nhóm Vương Mạn Vân vốn đứng ngoài cửa cũng không tiện đi vào nữa, nhưng họ cũng không rời đi ngay.

“Trưởng thôn, căn hầm này có phải hơi tối quá không, thế này thì hại mắt lắm nhỉ?”

Vương Mạn Vân rất có hứng thú với cô bé Hỷ Oa chưa lộ diện này, dự định hôm nay nhất định phải gặp được người.

Trưởng thôn thấy nhóm Vương Mạn Vân có vẻ quan tâm đến Hỷ Oa, liền không dẫn mọi người đi tiếp về phía cuối thôn nữa.

Ông vẫy tay bảo dân làng vác mấy tảng đá lớn tới mời nhóm Vương Mạn Vân ngồi xuống, sau đó mới kể về tình hình của Hỷ Oa.

“Căn hầm này trước đây cũng có cửa sổ đấy.

Mọi người xem, màu đất ở chỗ cửa sổ không giống với màu đất của hầm lò, đó là vì lớp đất này được đắp thêm sau này.”

“Ý ông là vì lý do của Hỷ Oa nên cửa sổ mới bị bịt lại sao?”

Vương Mạn Vân hiểu ý của trưởng thôn.

Trưởng thôn thấy phần lớn thời gian đều là Vương Mạn Vân hỏi chuyện mình, liền đoán được dù Vương Mạn Vân tuổi tác còn trẻ nhưng có lẽ lại là người đứng đầu trong đoàn, đối với những câu hỏi của bà, ông không hề giấu giếm chút nào.

“Đúng vậy, cửa sổ bị bịt lại rồi.

Hỷ Oa nhát gan, không hay gặp người.

Nó ngốc nhưng không khiến người ta ghét, không bao giờ cố ý đập phá cửa kính nhà ai, cũng không la hét làm phiền dân làng.

Nó thích yên tĩnh, hồi trước còn cửa sổ, nó sợ, cứ khóc mãi, khóc thâu đêm suốt sáng.

Sau khi phát hiện ra nó là vì thiếu cảm giác an toàn, chúng tôi mới bịt cửa sổ lại cho nó, cửa ra vào cũng lắp rất chắc chắn, trong phòng có đèn dầu, không ảnh hưởng đến sinh hoạt, Hỷ Oa lúc này mới yên tĩnh lại.”

“Hỷ Oa bao nhiêu tuổi rồi?”

Vương Mạn Vân tò mò về tuổi tác của Hỷ Oa.

“Chắc tầm hai mươi rồi đấy.”

Trưởng thôn hồi tưởng một lúc lâu, lại hỏi mấy dân làng đang ngồi xổm bên cạnh, mọi người cũng nhớ lại một hồi rồi thảo luận nhỏ vài câu, đưa ra một độ tuổi đại khái.

“Trẻ thế sao?”

Vương Mạn Vân còn tưởng Hỷ Oa này ít nhất cũng phải ba bốn mươi tuổi rồi chứ.

Trưởng thôn gật đầu, tiếp tục giới thiệu tình hình:

“Hỷ Oa là trẻ mồ côi, cụ thể bao nhiêu tuổi chúng tôi cũng không biết.

Nó không phải người thôn chúng tôi, nhưng lại sống ở thôn chúng tôi từ nhỏ.

Lúc đến thôn, nó mới tầm hai tuổi, gầy gầy nhỏ nhỏ, đến nói cũng chưa biết nói.”

Nói đến đây, ông thở dài một tiếng, tiếp tục:

“Cựu trưởng thôn thấy đứa nhỏ đáng thương nên đã giữ nó lại.

Đứa nhỏ này cũng ngoan ngoãn, không khóc không quấy, cho gì ăn nấy, nhưng tuyệt đối không ở lại nhà ai quá lâu.

Ban đầu có dân làng muốn nhận nuôi, nhưng đứa nhỏ này tự mình không đồng ý, lén chạy vào căn hầm bỏ hoang này trốn.

Chúng tôi cũng không ép buộc, cơm nước đều được trích từ của chung cho nó, không nhiều nhưng đủ để nó sống sót.”

Bác An ở một bên cũng tiếp lời:

“Hỷ Oa thực sự rất ngoan, lúc mùa màng bận rộn cũng sẽ ra đồng làm việc.

Tuy làm không được nhiều, cũng không biết làm lắm, nhưng nó rất chăm chú làm theo.

Phần lương thực mà nó được chia hoàn toàn là dựa vào sức lao động của chính nó, cả thôn chúng tôi không ai có ý kiến gì cả.”

“Trưởng thôn, mọi người thực sự có tấm lòng bao dung, thật vô tư quá.”

Diệp Văn Tĩnh bị làm cho cảm động.

Bà biết, trong thời buổi này, người bình thường lao động còn chưa chắc đã chia được đủ lương thực để no bụng, thôn Sa Đầu nghèo như vậy mà vẫn có thể cưu mang một đứa trẻ ngốc hầu như không có sức lao động, đó tuyệt đối là sự nhân từ.