Vừa nhìn thấy ta, hắn rõ ràng có chút bất ngờ, liền hỏi:
“Hôm nay sao nàng lại chủ động đến thư phòng của ta?”
Ta chỉ khẽ mỉm cười, vẫn giữ dáng vẻ khiêm nhường như trước.
Ta dịu giọng đáp:
“Lúc chúng ta vừa mới thành hôn, chẳng phải thiếp cũng thường xuyên tự tay mang canh đến cho tướng công sao? Chẳng lẽ bây giờ tướng công đã có những muội muội mới bầu bạn, nên bắt đầu chê canh thiếp tự tay nấu là dư thừa rồi?”
Nghe ta nói vậy, nụ cười trên mặt Tề Văn Khải lập tức trở nên hài lòng hơn.
Hắn cười hỏi:
“Nhược Nhân, nàng cũng biết ghen rồi sao?”
Ta chỉ chuyên tâm ứng phó qua loa với hắn, cho đến khi mọi chuyện trôi qua êm đẹp mới rời khỏi thư phòng.
Tiếp theo, ta còn phải tiếp tục ứng phó với hắn như vậy suốt một tháng, cho đến khi thân thể hắn dần suy yếu rồi phát bệnh.
Đến lúc ấy, hắn sẽ từng bước lặp lại số mệnh năm xưa của chính phụ thân mình.
Một tháng sau, thân thể Tề Văn Khải quả nhiên bắt đầu suy yếu rõ rệt.
Ban đầu, hắn chỉ hơi ho khan, lại thường xuyên cảm thấy buồn ngủ. Sau đó, tình trạng dần trở nên nghiêm trọng hơn. Hắn bắt đầu thường xuyên tỉnh giấc từ rất sớm, trên người lại đổ rất nhiều mồ hôi.
Ban ngày, hắn luôn uể oải, tinh thần sa sút. Đến đêm, hắn lại trằn trọc khó ngủ. Khó khăn lắm mới chợp mắt được một lúc, trời còn chưa sáng đã đột nhiên tỉnh dậy.
Ta vẫn làm đủ dáng vẻ của một hiền thê, khắp nơi tìm y hỏi t/h/u/ố/c, tận tâm chữa bệnh cho hắn.
Qua lại như vậy vài lần, tuy bệnh tình của Tề Văn Khải chẳng có chút khởi sắc nào, nhưng nhờ một phen bận rộn của ta, rất nhiều thân hữu cũng dần biết tin hắn đang lâm bệnh nặng.
Tề Văn Khải uống hết thang t/h/u/ố/c này đến thang t/h/u/ố/c khác. Bệnh tình không khá lên, cũng chẳng lập tức trở nặng, chỉ có cả người ngày càng chìm trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê.
Cuối cùng, ta chỉ đành rơi lệ, gánh lấy toàn bộ trọng trách trong nhà.
Cứ như vậy, hai năm trôi qua, bệnh tình của Tề Văn Khải ngày càng nghiêm trọng.
Việc mời lang trung đến bắt mạch, kê t/h/u/ố/c cho lão gia dần trở thành chuyện thường nhật trong Tề phủ. Trên dưới Tề gia cũng sớm quen với việc trong nhà có một vị chủ t/ử quanh năm nằm bệnh.
Mỗi tháng, ta đều dẫn Tĩnh Nhi đến phòng dưỡng bệnh của Tề Văn Khải thăm hắn một lần. Những thời gian còn lại, ta đều lấy cớ tránh lây bệnh khí, không cho Tĩnh Nhi đến gần.
Đương nhiên, mỗi lần chúng ta sang thăm, phần lớn Tề Văn Khải đều đang ngủ mê.
Hai mẹ con ta chỉ ngồi trong phòng một lúc. Sau đó, Tĩnh Nhi sẽ cung kính quỳ xuống, dập đầu trước giường phụ thân một cái.
Làm đủ lễ nghĩa cần có, chúng ta liền đứng dậy rời đi.
Dù sao Tĩnh Nhi còn phải chuyên tâm đọc sách, còn ta cũng phải tiếp tục quản lý việc nhà.
Trụ cột trong nhà đã ngã xuống, những người còn lại đương nhiên càng phải cố gắng hơn mới phải.
Có đôi khi đi ngang qua tiểu viện nơi Tề Văn Khải dưỡng bệnh, ta còn bắt gặp mấy hạ nhân phụ trách hầu hạ đang lười biếng trốn việc.
Bọn họ tụ lại một chỗ, nhỏ giọng bàn tán:
“Ngươi xem, lão gia ngày nào cũng chỉ nuốt được vài ngụm cháo canh, người như vậy còn có thể cầm cự được bao nhiêu ngày nữa?”
Một người khác tiếp lời:
“Thật đáng thương cho phu nhân. Một mình chống đỡ cả gia đình, vậy mà ngày nào cũng phải vất vả tìm y hỏi t/h/u/ố/c cho lão gia. Lang trung cứ vài tháng lại đổi một người, đủ thấy phu nhân vẫn chưa muốn từ bỏ lão gia. Nếu không, hà tất phải hao tâm tìm thầy t/h/u/ố/c khắp nơi như vậy?”
Lại có người thở dài:
“Phu nhân chắc cũng chẳng còn cách nào khác. Mấy năm nay, hễ rảnh rỗi là người lại đến chùa miếu ăn chay, bái Phật cầu phúc thay lão gia.”
Người bên cạnh cũng cảm khái:
“Lão gia thật sự không có phúc khí. Có một vị đích mẫu hiền từ như vậy, lại có phu nhân hiền huệ như vậy, ngay cả tiểu thiếu gia cũng thông minh hiếu học. Vậy mà lão gia lại cố tình vô phúc hưởng thụ.”
Nghe những lời ấy, khóe môi ta chỉ khẽ cong lên. Ta hoàn toàn không có ý định truy cứu chuyện đám hạ nhân lười biếng.
Dù sao ta cũng chỉ là một phụ nhân, một mình vừa phải hiếu kính bà bà, vừa quản lý việc nhà, lại phải dạy dỗ con trai, còn phải ngày ngày tìm y hỏi t/h/u/ố/c cho tướng công, thỉnh thoảng lại ăn chay cầu phúc.
Bận rộn đến mức ấy, trong việc nhà thỉnh thoảng xuất hiện chút sơ suất chẳng phải cũng là chuyện hết sức bình thường sao?
Ta căn bản chẳng thể chu toàn mọi mặt được.
Tĩnh Nhi quả thực là một đứa trẻ vô cùng thông minh. Mới mười ba tuổi, nó đã tham gia đồng t/ử thí và thuận lợi đỗ đồng sinh.
Tề phủ vốn lạnh lẽo suốt nhiều năm, chỉ trong chớp mắt lại trở nên náo nhiệt hẳn lên.
Tuy Tề Văn Khải vẫn nằm trên giường, sống dở c/h/ế/t dở, nhưng Tĩnh Nhi lại dựa vào chính sức mình mà học hành thành tài.
Sau đồng sinh là tú tài, rồi đến cử nhân, cuối cùng mới là tiến sĩ.
Chỉ cần thuận lợi thêm vài năm nữa, Tề gia sẽ lại có người đủ tư cách bước chân vào quan trường.
Nghĩ kỹ lại, Tề Văn Khải nằm trên giường trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê cũng đã bảy tám năm rồi.
Nếu Tĩnh Nhi đã đỗ đồng sinh, vậy hắn cũng có thể từ từ bệnh c/h/ế/t được rồi.
Ta chậm rãi bước vào phòng dưỡng bệnh của Tề Văn Khải.
Hôm nay, ta không sắp xếp trước, hắn cũng chưa uống t/h/u/ố/c an thần. Vì vậy, tuy thần sắc vẫn mệt mỏi, đờ đẫn, nhưng ý thức lại khá tỉnh táo.
Vừa bước qua cửa, một luồng mùi hỗn tạp giữa mồ hôi, mùi hôi thối và thức ăn ôi thiu đã lập tức xộc thẳng vào mặt.
Ngoại trừ những ngày Tĩnh Nhi đến thăm mỗi tháng, đám hạ nhân bình thường đều khá lười biếng, rất ít khi chịu nghiêm túc quét dọn nơi này.
Nha hoàn vừa vào đã vội vàng mở cửa sổ thông gió, sau đó đổ hương liệu trong túi thơm vào lư hương rồi đốt lên.
Một lúc sau, mùi trong phòng mới miễn cưỡng dễ chịu hơn đôi chút.
Ánh mắt Tề Văn Khải chậm rãi dừng trên chiếc lư hương phủ đầy bụi. Thần sắc hắn cũng theo đó trở nên hoảng hốt.