Sư phụ từng nói, người như chúng ta có thể nghe thiên lý, biết thiên mệnh, hiểu dị số, thông âm dương.
Nhưng hễ nhìn trộm thiên cơ, hễ can thiệp vào sự vận hành của vạn vật, thì nhất định phải trả giá bằng trời phạt, gọi là ngũ tệ tam khuyết.
Vì thế, trời lấy đi đôi mắt của ta.
Nhờ người trong thôn tin cậy, những việc lớn nhỏ như cưới gả, tang ma, tế tự, trừ uế, bọn họ đều mời ta đứng ra chủ trì.
Hôm ấy vốn là ngày trăm ngày của con gái út nhà chị dâu Tống.
Ta được mời xuống núi để cầu phúc cho đứa trẻ.
Ở thôn quê như chúng ta, lang trung không có nhiều, trẻ con mới sinh đều yếu ớt, có đứa chỉ một cơn gió lạnh cũng không chịu nổi.
Dân gian vẫn nói, ba tháng đầu sau khi chào đời chính là cửa ải đầu tiên của một đứa bé.
Qua được cửa ải ấy, coi như tạm có thể yên tâm lớn lên.
Bởi vậy đến ngày trăm ngày, cha mẹ sẽ bày tiệc mời thân bằng hàng xóm, cùng nhau chúc phúc cho đứa trẻ.
Vợ chồng chị dâu Tống đã chờ ngày này rất lâu.
Từ sớm, họ đã đi từng nhà báo tin, mỗi nhà còn được tặng một quả trứng gà.
Mấy hôm trước đó, chị dâu Tống còn leo núi lên chỗ ta, lén nhét thêm cho ta hai quả trứng, nhờ ta cầu phúc trừ tà cho con gái nhỏ của nàng, mong con bé bình an mạnh khỏe.
Ta đã nhận lời.
Chỉ là…
Đứa trẻ ấy cuối cùng vẫn không thể vượt qua cửa ải này.
Đầu ngón tay ta run lên, khẽ khép lại đôi mắt của chị dâu Tống.
Sau đó ta gắng gượng kéo t.h.i t.h.ể nàng đến bên một gò đất nhỏ.
Đào huyệt.
Hạ táng.
Lập bia.
Tụng kinh.
Thôn làng ngày thường đầy tiếng người cười nói, hôm ấy chỉ còn tiếng gió thổi qua tai ta, hoang lạnh đến tận xương.
Bên cạnh ta là từng nấm mồ chen sát nhau.
Từ ngày ấy, một trăm ba mươi hai người của Hà gia thôn, ngoại trừ ta, không còn ai sống sót.
Tất cả đều nằm lại dưới đất.
Ta kéo thân thể gần như tan rã trở về núi.
Ta cởi bộ áo đen mà mình thường thích mặc nhất, lấy bộ áo trắng cất dưới đáy rương ra thay vào.
Cuối cùng, ta tìm một dải lụa trắng buộc lên mắt.
Ta phải để tang cho bọn họ.
Phong thủy của Hà gia thôn vốn không xấu, nơi ấy không có âm sát khí nặng nề.
Sau khi c.h.ế.t, thôn dân chỉ là những linh hồn bình thường, ngay cả muốn gom âm khí hóa thành lệ quỷ cũng không làm được.
Vì vậy khi ta chạy xuống núi, bọn họ đã theo quỷ sai đi về địa phủ.
Ta không thể hỏi tận miệng họ rằng kẻ g.i.ế.c họ là ai.
Ta chỉ có thể tìm những vật tùy thân còn sót lại.
Rồi bói phương hướng, đốt hương định vị.
Ta mang theo toàn bộ đồ nghề kiếm sống của mình, cưỡi một con ngựa nhanh, lần theo dấu vết của đám người áo đen ấy, đi một mạch về phía bắc.
Cuối cùng, ta vào kinh thành.
Ta dừng lại trước một tòa phủ đệ.
Hỏi người qua đường mới biết, nơi ấy chính là tướng quân phủ.
Cách một bức tường cao, ta ngẩng đầu nhìn về khoảng trời phía trên phủ ấy.
Mắt ta không thấy được vật bình thường.
Nhưng không có nghĩa là ta chẳng nhìn thấy gì.
Thế gian trong mắt ta không giống thế gian trong mắt người khác.
Mọi vật đều mang dáng vẻ của từng luồng khí, từng loại năng lượng khác nhau.
Lúc ấy, trên bầu trời tướng quân phủ phủ kín một tầng huyết sát khí dày đặc.
Thứ khí ấy chỉ có thể hình thành khi nơi đây từng nhuốm rất nhiều m.á.u người.
Ngoài tường còn có không ít tiểu quỷ đang nhe nanh múa vuốt với tướng quân phủ, nhưng dù oán hận đến đâu, chúng cũng không dám bước vào.
Tấm biển treo trên cửa lớn có long khí bảo hộ.
Tướng quân phủ không phải nơi muốn vào là vào được.
Ta siết dây cương, quyết định tạm rời đi, chờ nghĩ cách khác.
Nhưng trong lòng ta mãi không thể hiểu.
Người Hà gia thôn đều là nông dân thật thà, cả đời an phận thủ thường.
Bọn họ có thể dính líu gì đến tướng quân phủ?
Rốt cuộc là mối thù sâu đến mức nào, mới phải tàn sát cả một thôn?
Đúng lúc ấy, tim ta bỗng đau thắt.
Như có bàn tay vô hình bóp c.h.ặ.t lấy nó.
Ta kinh ngạc quay đầu.
Ta cảm nhận được một hơi thở quen thuộc đến khắc cốt ghi tâm.
Đó là… Ôn Du?
Ôn Du là phu quân nuôi từ bé mà cha mẹ ta mua về khi ta còn nhỏ.
Bọn họ sợ ta cô độc, cũng thương hắn khi ấy quá đáng thương.
Một đứa trẻ nhỏ như vậy, chẳng biết vì sao lại rơi vào tay bọn buôn người, ngày ngày bị đ.á.n.h mắng.
Sau khi cha mẹ ta mất, người luôn ở bên cạnh ta chính là hắn.
Sư phụ nói người như chúng ta thuộc về dị số, không nên quá thân cận với thôn dân.
Vì vậy ta dọn lên núi ở một mình.
Nhưng Ôn Du không yên tâm.
Hắn sợ ta đói, sợ ta lạnh, sợ ta va vấp, sợ ta bị thương.
Từ đó về sau, cứ ba ngày hắn lại lên núi một lần.
Hắn mang đồ ăn dưới thôn lên cho ta, mang rau tươi, quả mới, cả những nhành hoa nhỏ hái bên đường.
Hắn biết rất nhiều thứ.
Nấu cơm, khâu vá, sửa mái nhà, đốn củi, nhóm bếp.
Nhiều năm qua, hắn chưa từng gián đoạn.
Ôn Du rất thông minh, tính tình lại dịu dàng.
Đôi mắt màu hổ phách của hắn luôn cất một nụ cười mềm như nắng sớm.
Hắn da mặt mỏng, mỗi lần nói chuyện với ta đều dễ đỏ mặt.
Hắn không biết rằng ta nhìn thấy hắn.
Giữa nhân gian mênh m.ô.n.g này, người duy nhất ta có thể nhìn thấy, chỉ có hắn.
Phu t.ử trong thôn thường khen Ôn Du là học trò xuất sắc nhất mà ông từng dạy, sau này nhất định có tiền đồ rạng rỡ.
Ôn Du cũng từng nói, nếu có ngày hắn thi đỗ công danh, hắn nhất định sẽ giống như ta, bảo vệ bình an cho một phương.
Lúc hắn nói lời ấy, đôi mắt hắn sáng lắm.
Sáng đến mức tựa như có cả dải ngân hà rơi trong đó.