“Không cần, nếu hôm nay mọi người đã có mặt đông đủ thì chi bằng nói rõ một lần.”
Ta nhìn thẳng Lục Cảnh Hiên: “Ta cho ngươi hai lựa chọn: Thứ nhất, chúng ta lập tức hòa ly, ta mang của hồi môn đi, từ nay đường ai nấy đi.”
“Thứ hai, ta lấy thân phận nguyên phối chính thê tố cáo ngươi sủng thiếp diệt thê, chiếm đoạt của hồi môn, khi quân phạm thượng, chúng ta gặp nhau ở công đường, để Đại Lý Tự phân xử.”
Lục Cảnh Hiên trắng bệch mặt, hai chân run rẩy, bởi hòa ly đồng nghĩa với mất túi tiền Thẩm gia, các mối quan hệ ta gây dựng cùng danh tiếng của hắn, còn ra công đường sẽ phải đối mặt với tội khi quân, nhẹ thì tước tước vị, bãi quan, nặng thì lưu đày, tịch thu gia sản.
Dù chọn cách nào, với hắn cũng chẳng khác nào đường cùng.
“Ta… ta…”
Hắn lắp bắp không thành lời, còn Lâm Chi Khiêm đã khinh thường hừ lạnh: “Thẩm thị, ngươi đừng được nước lấn tới!
Cảnh Hiên là Quốc công nhất phẩm, đâu phải ngươi muốn kiện là kiện, huống chi chỉ dựa vào lời nói suông thì lấy gì chứng minh hắn phạm tội khi quân?”
“Ai nói ta không có bằng chứng?”
Ta vỗ tay, Xuân Đào lập tức lấy từ trong n/g/ự/c áo ra một bức thư cũ đã ngả vàng, mép giấy hơi cong, cung kính dâng lên.
Ta mở thư, cất giọng đọc rõ ràng: “Cảnh Hiên, phu quân của thiếp, thấy chữ như thấy người.
Biên quan lạnh lẽo khắc nghiệt, bệnh tình phụ thân ngày càng nghiêm trọng, e không còn sống được bao lâu.”
“Lòng thiếp đau như d/a/o cắt, chỉ hận không thể lấy thân mình chịu thay người, may nhờ chàng gửi thư an ủi mỗi tháng, thiếp mới có đủ dũng khí chống đỡ.”
“Chàng ở kinh thành mọi chuyện có tốt không?
Công việc trong triều bận rộn, chớ quá lao lực, giữ gìn sức khỏe mới là quan trọng.”
“Còn nữa, nhân sâm chàng gửi về tháng trước thiếp đã nhận được, phụ thân uống xong tinh thần khá hơn đôi chút, đa tạ chàng đã quan tâm.
Mong sớm ngày đoàn tụ.
Thê t/ử Thanh Từ, mùng Ba tháng Chạp.”
Đọc xong, ta nhìn Lục Cảnh Hiên: “Bức thư này viết vào tháng Chạp năm đầu tiên ta rời kinh, có nhắc đến những lá thư an ủi hằng tháng và số nhân sâm ngươi gửi tới.”
Ta lấy tiếp bức thứ hai, đọc: “Cảnh Hiên, phu quân của thiếp, phụ thân bệnh nặng, e khó qua nổi mùa xuân này.
Lòng thiếp nguội lạnh như tro tàn, may nhờ lời khuyên nhủ trong thư chàng mới còn chút hy vọng.”
“Chàng ở kinh thành có khỏe không?
Tiết xuân vẫn lạnh, nhớ mặc thêm áo.
Mong ngày trở về.
Thê t/ử Thanh Từ, mùng Bảy tháng Ba.”
Ta ngừng một lát rồi giới thiệu bức thứ ba: “Đây là thư tháng Tám năm thứ hai.
Cảnh Hiên, phu quân của thiếp, phụ thân đã bệnh đến giai đoạn nguy kịch, đại phu bảo có lẽ chỉ còn mấy ngày nữa.”
Ngày đêm ta túc trực trong căn phòng nhỏ, không dám rời đi dù chỉ một khắc, trong lòng vẫn luôn nhớ mong chàng, nên trong thư còn hỏi chàng ở kinh thành thế nào và nhắc chàng chú ý tránh nóng giữa mùa hạ.
Cuối thư, ta gửi lời mong mỏi ngày đoàn tụ, ký tên: “Thê t/ử Thanh Từ, Trung Thu tháng Tám.”
Ta tiếp tục đọc hết lá này đến lá khác, lá nào cũng nhắc đến những bức thư chàng gửi và những lời hỏi han tình hình ở kinh thành.
Đến lá thứ năm, toàn thân Lục Cảnh Hiên đã run bần bật, hai chân mềm nhũn, gần như không thể đứng vững.
Ta lặng lẽ nhìn hắn: “Những bức thư ấy đều do ta viết cho ngươi, nhưng ngươi không hề nhận được, đúng không?”
“Có kẻ chặn thư của ta, bắt chước nét chữ của ta để gửi thư hồi âm cho ngươi, nói rằng ta vẫn khỏe, bệnh tình phụ thân ổn định, bảo ngươi đừng lo.”
“Về sau, khi phụ thân qua đời, kẻ ấy lại sai người giả mạo tin ta c/h/ế/t, khiến ngươi tưởng ta không còn trên đời, như vậy ngươi có thể thuận lý thành chương cưới người mới, còn kẻ ấy được toại nguyện bước vào phủ Định Quốc công làm nữ chủ nhân.”
Ta quay sang Lâm Uyển Nhu, ánh mắt lạnh như băng: “Lâm cô nương, ngươi nói xem, ta đoán có đúng không?”
Sắc mặt Lâm Uyển Nhu lúc này không còn đơn giản là trắng bệch, mà xám ngoét như tro tàn, chẳng thấy chút huyết sắc nào.
Nàng ta há miệng định nói gì đó, nhưng mãi không phát ra nổi một tiếng, trong lòng vừa muốn phủ nhận, vừa muốn ngụy biện, lại định giở trò giả vờ đáng thương như trước.
Thế nhưng trước những bức thư đã ngả vàng và ánh mắt lạnh lẽo của ta, mọi lời chống chế dường như đều mắc nghẹn trong cổ họng.
Cuối cùng, nàng ta đành hoảng hốt nhìn sang phụ thân, mong ông ta ra mặt giải vây.
Lâm Chi Khiêm đứng đó, sắc mặt âm trầm đến đáng sợ; ông ta vừa kinh ngạc vừa hối hận, tuyệt đối không ngờ ta vẫn giữ lại toàn bộ bản nháp những bức thư năm xưa.
Từng bức thư đều được viết tỉ mỉ, lời lẽ chân thành, vậy mà hôm nay lại bị đem ra công khai trước bao nhiêu người, chẳng khác nào dồn Lâm gia vào đường cùng.
“Nói bậy nói bạ!”
Lâm Chi Khiêm cố giữ bình tĩnh, lớn tiếng quát, dù vẻ hung hăng ngoài mặt vẫn không giấu được sự chột dạ.
“Chỉ mấy bức thư không rõ thật giả mà cũng có thể coi là chứng cứ sao?
Ai biết có phải chính ngươi ngụy tạo hay không?”
“Ngụy tạo ư?”
Ta cười lạnh, chậm rãi lấy từ trong tay áo ra một con dấu nhỏ rồi giơ lên trước mặt ông ta.
“Lâm Thượng thư có nhận ra vật này không?”
Lâm Chi Khiêm vừa nhìn rõ, sắc mặt lập tức thay đổi, trong mắt tràn đầy kinh hãi.
Đó là một con dấu riêng vô cùng tinh xảo, trên mặt khắc rõ hai chữ “Uyển Nhu”, bên cạnh còn điểm thêm một đóa hoa mai nhỏ.
Chính là tư ấn của Lâm Uyển Nhu.
“Con dấu này ta tìm được trong thư phòng Thanh Huy viện, đặt ngay trên bàn trang điểm của ta.”
Ta thong thả xoay con dấu trong tay, tỏ vẻ nghi hoặc.
“Kỳ lạ thật, tư ấn của Lâm cô nương sao lại xuất hiện trong thư phòng của ta?
Trừ phi có kẻ dùng con dấu ấy đóng lên những bức thư hồi âm giả mạo nét chữ ta, để khiến Lục Cảnh Hiên tin rằng thư thật sự do ta viết.”
“Ngươi nói bậy!
Chính ngươi đã trộm nó!”