Tiết trời đương độ Thanh minh, gió dập một hồi, mưa vùi một đợt, mùa xuân xem ra vẫn còn chút chừng mực. Hoa hòe vốn linh tính như con người, thấu được tin xuân, chỉ sau một đêm đã nhú lên những nụ xanh đầu cành.
Chương Văn Lương ở công xã Nguyệt Hòe Thụ, định sẵn là không ăn nổi mùa hoa hòe này nữa rồi.
Trước lúc lâm chung, ông chỉ muốn được nếm lại chút vị hoa hòe, mà phải là món hoa hòe hấp do chính tay mẹ ông làm. Năm ấy là năm 1964, mẹ ông đã tạ thế tròn ba mươi năm.
Linh cữu đặt tại gian nhà chính, túc trực bên cạnh là vợ chồng con trai thứ Chương Vọng Triều và cậu con út Chương Vọng Sinh. Chương Vọng Sinh mười ba tuổi, khuôn mặt như bị nước mắt thấm qua, da dẻ như bị kéo căng, đôi mắt dưới hàng mi đen dày đặc tựa như một mặt ao lấp loáng ánh nước.
Cậu ra ngoài đi vệ sinh, một đám trẻ con chạy đi chạy lại, nhảy cẫng lên trước mặt cậu rồi vỗ tay hát: “Lão địa chủ lên Tây Thiên, lão địa chủ lên Tây Thiên! Lên Tây Thiên rồi!”
Chương Vọng Sinh nhìn lũ trẻ mấy cái, không nói nửa lời. Trong lòng cậu chỉ lẩm nhẩm tính xem cả đời này cha mình đã nhìn thấy bao nhiêu lần mặt trời mọc, bao nhiêu lần trăng lặn, chuyện này làm sao mà tính cho xuể?
Nhà vệ sinh xây bằng đá hộc, đàn ông đi vệ sinh chỉ cần ngẩng đầu là nhìn thấy bên ngoài, vừa đi vừa có thể chào hỏi người qua đường. Chương Vọng Sinh đang độ trổ mã, cái đầu vừa vặn lộ ra một chút.
“Tóm lấy nó, mau tóm lấy nó!” Chú sáu Mã, người lo việc tang lễ đang chống nạnh quát tháo bên ngoài. Giữa đám đông, một bóng người nhỏ thó như con lươn, tay ai vừa chạm vào vai là nó đã lách mình trốn thoát mấy lần. Nhưng rốt cuộc người nhỏ không thắng nổi đám đông, nó bị tóm sống, bị vặn tai xách đến trước mặt chú sáu Mã.
Thập Ngũ chẳng biết sợ người, dù bị bắt quả tang vẫn không quên tống nốt nắm mỡ heo trong tay vào miệng. Dưới mái tóc rối bù là khuôn mặt đen nhẻm, chỉ có đôi mắt là lung linh, sáng rực.
Khỏi phải nói, số mỡ heo dùng để làm cỗ hai ngày nay vốn là thứ quý giá như ngọc báu, thế mà lại bị người ta khoét ra tận mấy cái lỗ, chuyện này làm sao chấp nhận cho được!
Chú sáu Mã nói: “Tôi thấy không giống con cái nhà vùng Nguyệt Hòe Thụ, có ai nhận ra không?”
Công xã Nguyệt Hòe Thụ nói lớn thì rất lớn, lớn đến mức người dân nơi đây ngỡ rằng nó là trung tâm của thế giới. Có mấy thôn tự nhiên lận, về phía Nam, phía Bắc, phía Tây, phía Đông, những đội sản xuất kia đều nhỏ bé đến mức dường như không đáng nhắc tới.
Mọi người nhìn vài cái, chẳng ai quen biết. Vóc dáng Thập Ngũ chỉ chừng năm sáu tuổi, so đo làm gì? Chẳng qua là vặn tai vài cái, mắng mỏ mấy câu, chú sáu Mã dọa nạt: “Còn ăn trộm nữa là ta đ.á.n.h gãy chân, ở đâu ra thì cút về đấy!”
Thập Ngũ vắt chân lên cổ mà chạy, đ.â.m sầm vào Chương Vọng Sinh vừa bước ra từ nhà vệ sinh. Chương Vọng Sinh mấy ngày nay lo liệu tang sự nên cả người hơi yếu ớt, một cậu thiếu niên mười mấy tuổi suýt chút nữa bị đứa trẻ đ.â.m cho ngã nhào. Chương Vọng Sinh chưa kịp nhìn rõ thì Thập Ngũ đã chạy xa, đôi bàn chân ấy đến đôi dép cỏ cũng chẳng có mà đi, vẫn cứ như cánh chim én, tẩu thoát nhanh như chớp.
Trong gian nhà chính, Chương Vọng Triều cùng vợ bước ra. Anh là một người đàn ông tuấn tú, gọi là đàn ông nhưng mới chỉ ngoài hai mươi, diện mạo thanh tú như con gái, đứng bên cạnh vợ là Phượng Chi trông rất có tướng phu thê.
“Vọng Sinh, em lại đây.” Anh nhìn Chương Vọng Sinh.
Ngang thắt lưng Chương Vọng Sinh buộc một sợi dây thừng thô bằng sợi gai, người lọt thỏm trong bộ đồ tang trông thật gầy gò. Cậu bước lại gần, nghe anh hai nói: “Trên mâm có thịt, em cùng chị dâu đi ăn đi.”
Phượng Chi nhìn dân làng đang bận rộn bên bếp đất, nói: “Để em đi trông chừng một chút, kẻo lát nữa người ta lại tiện tay cầm nhầm đồ đạc đi mất.”
Chương Vọng Triều ngăn lại: “Thôi, người ta chịu đến giúp là đã nhân nghĩa lắm rồi, muốn lấy gì thì lấy, cũng chẳng có đồ đạc gì đáng giá cả.”
Phượng Chi không nói thêm gì nữa. Cô luôn nghe lời anh, anh không cho thì cô không làm.
Chương Vọng Sinh nhìn anh: “Anh hai không ăn sao?”
Chương Vọng Triều ho khẽ hai tiếng, anh rất dịu dàng, xoa xoa đầu Vọng Sinh không đáp gì.
Lúc nhập tiệc là náo nhiệt nhất, bận rộn bấy lâu cũng chỉ mong được ngồi xuống ăn một miếng thịt mỡ. Mùi thịt thơm quá, trong mơ cũng thấy nó, giờ đã vào đến miệng thì chẳng nỡ nuốt ngay, phải ngậm lấy, thấm thía, nhấm nháp kỹ cái vị ấy. Đó không phải là vỏ cây, không phải hoa hòe, không phải rau dại, mà là thịt! Là miếng thịt mỡ đích thực!
Người ta nói cười hi hả, vui mừng khôn xiết. Chương Vọng Sinh thấy đói, con người ta thật lạ, cha mất rồi, cậu đau lòng, khóc bao nhiêu nước mắt, nhưng giờ thấy thịt rồi, cậu lại tạm quên đi cha. Người c.h.ế.t thì đã nằm đó, nhưng người sống thì vẫn phải ăn cơm.
Cậu bưng bát sứ vào gian nhà chính định đưa cho anh hai ăn, Chương Vọng Triều lắc đầu. Chương Vọng Sinh và Phượng Chi khuyên mãi, anh mới miễn cưỡng ăn vài miếng.
Chương Vọng Triều dạy thay ở trường học, mỗi tháng được mấy đồng bạc. Đám tang lần này nếu không có chút tiền tích cóp của anh, nhà họ Chương đến tấm ván quan tài cũng chẳng sắm nổi. Thành phần gia đình nhà họ quá tệ, dân làng chịu giúp đỡ là đã nể mặt lắm rồi, nếu không có miếng thịt mời họ thì thật không phải phép.
Tiệc đang ăn nửa chừng thì có người cãi nhau, chẳng qua là vì mấy thước vải xô làm đồ tang, dù chỉ một tấc cũng phải tranh cho bằng được. Tranh làm gì? Công dụng lớn lắm chứ, để làm giày, làm vải lót xửng hấp, một mẩu vải vụn cũng quý như vàng. Những người cãi vã đỏ mặt tía tai, tám phần là kết oán, chẳng ai can nổi.
Người thì cứ cãi, cứ tranh, nhưng mặt trời thì vẫn cứ lặn về núi phía tây. Đội kèn trống bắt đầu thổi đ.á.n.h vang trời, Chương Văn Lương phải lên đường thôi. Chú sáu Mã thắt chiếc khăn trắng ngang hông, nhảy cao ba thước trước mặt mọi người, hô vang điệu hò.
“Nhảy nào nhảy nào ồ ô ô, được rồi, thưa bà con cô bác Nguyệt Hòe Thụ! Mọi người nghe tôi nói đây!”
Đám đàn ông lập tức đồng thanh đáp: “Hò!”
“Xóm giềng chẳng yên nhỉ!”
“Hò!”
“Một nhà có việc, cả làng chung tay nhỉ!”
“Hò!”
“Giúp thì giúp cho ch.ót, giúp thì giúp đến cùng nhỉ, trong cửa nhà này, hiếu t.ử đang đau buồn nhỉ!”
“Hò!”
“Chúng ta khiêng đòn rồng nhé, khiêng sao cho nở mày nở mặt nhé! Đừng để mất mặt nhé!”
“Hò!”
“Mặt trời lặn núi tây rồi, ngày cuối cùng rồi, hiếu t.ử thoát nợ rồi, chúng ta thỉnh quan thôi!”
“Hò!”
“Bồ Tát đến dẫn lối rồi, Phật Tổ cũng độ ông ấy lên Tây Thiên rồi, Bát Tiên hộ tống kim quan rồi, người tiễn vạn dặm đường, Ngọc Nữ đón tiên ban, thỉnh quan vào thôi!”
“Hò!”
“Thỉnh quan!”
Đám người khiêng quan tài đều là những thanh niên khỏe mạnh, trong đó nổi bật nhất là Lang Hài. Tên thật của anh ta là gì chẳng ai rõ, chỉ biết hồi nhỏ anh ta cùng cha trông lều dưa, chẳng may đêm hôm bị sói lẻn vào tha đi. Cha anh ta vác gậy đuổi theo cứu được người về, từ đó anh ta được gọi là Lang Hài.
Lang Hài năm nay hai mươi mốt, thân hình như bò mộng. Ba năm nạn đói không làm anh ta c.h.ế.t đói được, ăn vỏ cây mà cũng nở thịt nở da. Anh chàng vừa mới cưới vợ, cái sức mạnh khiêng quan tài này chắc là do tân hôn tiếp cho. Vợ anh ta tên là Tuyết Liên, người đúng như tên, trắng trẻo nõn nà. Cô vợ mười tám tuổi này được đổi bằng mười cân bột mì hỗn hợp* mà có được, không ai là không ghen tị.
*Chỉ loại bột được làm từ nhiều loại ngũ cốc pha trộn cùng cám, vỏ trấu và các nguyên liệu chất lượng thấp khác. Từ này chuyên dùng để chỉ loại thực phẩm thay thế được nghiền trộn từ lõi ngô, bã đậu, cám trấu,.. nó là những nguyên liệu khó ăn riêng lẻ. Loại bột này có vị rất thô ráp và hầu như thiếu giá trị dinh dưỡng, thường xuất hiện như biểu tượng cho đời sống cơ cực và khó khăn của nhân dân Trung Quốc trong một số giai đoạn lịch sử nhất định.
Đàn ông khiêng quan tài, đàn bà đi sau. Vừa đi, họ vừa liếc nhìn người vợ mới của Lang Hài, thầm thì bàn tán: Tuyết Liên còn đẹp hơn cả Phượng Chi, lấn lướt hẳn rồi. Mắt Tuyết Liên to hơn, da dẻ trắng hơn, cái eo thì bé tí tẹo mà m.ô.n.g thì đầy đặn… Phía trước quan tài đựng người c.h.ế.t, nhưng cô vợ mới này lại như đóa hoa hé nở giữa mùa xuân.
Phượng Chi mới về làm dâu từ cuối năm kia, năm nay trông đã có vẻ cũ rồi.
Quan tài đi được nửa đường thì có kẻ muốn gây khó dễ. Là ai? Là Lý Đại Thành, con trai út của Lý Hồng Ba ở phía đông làng. Những năm trước, cả gia đình năm sáu miệng nhà Lý Hồng Ba chỉ có tổng cộng hai mẫu đất, chẳng đủ nhét kẽ răng. Sau này chia lại ruộng đất, ông ta làm Phó chủ nhiệm hội bần nông, cả nhà vui mừng khôn xiết, thật sự là đổi đời làm chủ. Lý Đại Thành từng muốn lấy Phượng Chi, nhưng thành phần nhà Phượng Chi là phú nông, cô cũng chẳng ưng anh ta, thế là chuyện hôn sự không thành.
Lý Đại Thành trông cũng không tệ, mày rậm mắt to. Nếu là ngày xưa, anh ta chẳng dám xem nhẹ cậu ấm địa chủ, nhưng giờ trời đất đảo lộn rồi, mọi thứ đã khác xưa. Anh ta chướng mắt cái vẻ mặt thư sinh trắng trẻo của Chương Vọng Triều, nhìn kiểu gì cũng thấy khó chịu. Mang tiếng là đi khiêng quan tài, nhưng giữa đường anh ta lại buông đòn bảo mệt không còn sức, đòi điếu t.h.u.ố.c, đòi hớp rượu mạnh. Chú sáu Mã là người chủ sự, đáp ứng yêu cầu của anh ta, nhưng đi được vài bước anh ta lại đòi thêm thứ khác.
“Đại Thành, cậu làm thế là không nể mặt chú Sáu rồi.” Chú sáu Mã không nhắc đến nhà họ Chương mà chỉ nói về mình.
Lý Đại Thành biết cha của chú sáu Mã năm xưa từng chịu ơn nhà họ Chương, trong lòng thầm c.h.ử.i một câu. Nhưng chú sáu Mã ở Nguyệt Hòe Thụ cũng là nhân vật có tiếng nói, xóm giềng có tranh chấp lông gà vỏ tỏi gì cũng đều tìm chú đứng ra hòa giải, chưa vụ nào chú không dàn xếp ổn thỏa. Lý Đại Thành đành hậm hực thôi, nói một câu: “Vậy thì tôi nể mặt chú Sáu”. Cơn sóng gió này chỉ vừa gợn lên chút lăn tăn đã lại bình lặng.
Chương Vọng Sinh cứ lờ đờ như người mất hồn, dọc đường bảo đi thì đi, bảo dừng thì dừng. Hiếu t.ử đứng trước quan tài phải quỳ lạy, đầu gối đau nhói, quỳ xuống rồi khó lòng đứng dậy nổi. Hai anh em dìu dắt nhau làm chỗ dựa cho đối phương, rồi lại tiếp tục bước đi.
Mãi đến hoàng hôn, cha mới được đưa vào khu mộ tổ. Lớp đất mới đào lên tươi rói, phảng phất mùi vị nồng đượm của mùa xuân. Chương Vọng Sinh áp mặt xuống mặt đất lạy một lạy, khi ngẩng đầu lên, cậu bắt gặp một đôi mắt đang nhìn mình từ phía đám đông.
Đôi mắt ấy lấp ló giữa những đôi chân của người lớn, hai lòng đen trắng phân tách rõ ràng, sáng rực đến lạ thường.
Chương Vọng Sinh bỗng chốc sững sờ trước ánh nhìn ấy. Thập Ngũ lặng lẽ nhìn cậu, cô bé chẳng hiểu gì cả, chỉ là đến xem đám ma thôi. Cô bé không biết tại sao người ta khóc, tại sao lại hò hét, chỉ biết là có người c.h.ế.t. C.h.ế.t là gì? Là phải ngủ dưới lòng đất, không bao giờ tỉnh dậy được nữa.
Chương Vọng Sinh ngẩn người, lòng bỗng thấy nóng rực, suýt chút nữa thì gọi thành tiếng.
Nhưng bao nhiêu đôi chân chỉ khẽ nhích một cái, đôi mắt ấy liền biến mất, có tìm thế nào cũng không thấy nữa.
Buổi tối còn lại chút dư âm náo nhiệt cuối cùng, phải đãi cơm đội khiêng quan tài và người trong họ một bữa. Trong sân lộn xộn đủ thứ, đèn dầu treo trên cành cây, trong ánh sáng mờ ảo, có một bóng người nhỏ bé thoăn thoắt như chuột, bàn tay lặng lẽ thò vào giỏ bánh màn thầu.
Thập Ngũ vớ được bánh là chạy, nhưng đôi mắt của chú sáu Mã sinh ra là để bắt trộm. Thập Ngũ bị lôi ra trước mặt mọi người, chú sáu Mã quát: “Tên nhãi này, mày còn dám đến nữa hả!”
Thập Ngũ ôm c.h.ặ.t chiếc bánh màn thầu làm từ bột mì hỗn hợp. Đứa nhỏ này đầu to cổ nhỏ, duy chỉ có đôi mắt là lanh lợi vô cùng.
Thời buổi này, một miếng ăn là một mạng người, chú sáu Mã nhất định phải hỏi cho ra lẽ. Thập Ngũ tuy nhỏ tuổi nhưng tính tình bướng bỉnh như trâu, đ.á.n.h c.h.ế.t cũng không hở miệng, chỉ giương đôi mắt nhìn trân trân.
Phụ nữ vốn mủi lòng, Phượng Chi bước tới nói: “Chú Sáu, cứ để đứa nhỏ đi đi, cũng chẳng biết là con cái nhà ai chạy lạc tới đây, việc xong rồi, mai nó cũng chẳng đến nữa đâu.”
Chương Vọng Sinh đứng sau chị dâu quan sát, cậu nhìn thấy Thập Ngũ rồi. Vừa nhìn thấy nó, cậu lập tức chạy biến vào gian nhà chính.
Anh hai đang ngồi một mình trong gian nhà chính rất yên tĩnh, chẳng biết đang nghĩ gì, dường như đã tạm quên đi mọi thứ bên ngoài.
“Anh hai, em thấy em gái rồi!”
Chương Vọng Triều ngước mắt: “Ai cơ?”
“Em gái, em thấy em gái rồi!” Chương Vọng Sinh chạy tới kéo tay anh. Chương Vọng Triều không nhúc nhích, anh biết, nhưng Chương Vọng Sinh không biết, em gái sớm đã không còn nữa rồi.
Năm đó, họ đi đến mức chẳng còn chút sức lực nào, tưởng như sắp c.h.ế.t đến nơi. Cha bế em gái, ấn ngón tay lên làn da trên người con bé một cái là lõm xuống, mãi hồi lâu không đàn hồi lại được. Cha bảo ông không bế nổi con bé nữa, chẳng ai bế nổi nữa cả. Cha nói hãy để Tiểu Trú ngồi đây nghỉ chân, khi nào tìm được cái ăn sẽ quay lại đón con bé.
Em gái vẫn còn nói được, con bé bảo muốn anh ba bế.
Cha bèn bảo, anh ba bế, anh ba bế, nhưng đến sức lực để mỉm cười với con bé mà Chương Vọng Sinh cũng chẳng còn.
Nhà họ Chương có rất nhiều con cái, vì đủ loại lý do, cuối cùng chỉ còn ba anh em họ bên cạnh nhau.
Em gái lớn lên trên lưng anh ba Chương Vọng Sinh đến năm hai tuổi tám tháng rồi bị đặt lại trên một tảng đá ven đường. Khi ấy trông con bé vẫn xinh đẹp như thế, giống hệt như một con b.úp bê Tây vậy.
Chương Vọng Triều không muốn nhớ lại hình ảnh con b.úp bê ấy, anh nói: “Vọng Sinh, mệt rồi phải không, lại đây ngồi với anh một lát.”
Chương Vọng Sinh rưng rưng nước mắt: “Anh hai, em gái chắc chắn là tìm thấy đường về nhà rồi, anh ra xem đi, xem thử đi anh!”
Cuộc gặp gỡ này thực sự không đơn giản, nó giống như vướng phải loài sâu bám lá, chẳng thể nào dứt khỏi Thập Ngũ được nữa. Thập Ngũ là trẻ con, mà trẻ con thì cũng giống như lũ ch.ó mèo, luôn biết rõ ai là người có lòng thiện với mình.
Chương Vọng Triều hỏi cô bé: “Em từ đâu tới?”
Thập Ngũ cảm thấy anh là một người lớn có gương mặt hiền từ, liền mở miệng đáp: “Em từ phía nam tới.”
Phía nam thì rộng lớn vô cùng.
“Em tên gì?”
“Tên là Thập Ngũ. Ngày em bái sư là rằm tháng ngày mười lăm (thập ngũ), nên em gọi là Thập Ngũ luôn.”
Cái tên này thật dễ nhớ. Chương Vọng Triều nghe giọng điệu cô bé khá lanh lợi, vốn dĩ cô bé đi theo một gánh hát, xa hơn nữa thì chắc do tuổi còn quá nhỏ nên không nhớ rõ, chỉ vì bị sư phụ đ.á.n.h đập tàn nhẫn quá nên mới bỏ trốn.
Chương Vọng Sinh cứ lẳng lặng quan sát cô bé, nhìn đôi mắt, cái mũi, đôi tay chân nhỏ xíu và bàn chân trần đen nhẻm, cậu thực lòng muốn ôm cô bé một cái. Cậu nhớ rõ cha đã từng hứa sẽ để cậu bế em gái về, nhưng giờ cha đã mất rồi.
Chương Vọng Triều đưa cho cô bé mấy cái bánh màn thầu rồi bảo cô bé đi đi. Vọng Sinh khẽ gọi: “Anh hai”, nhưng Thập Ngũ đã ôm c.h.ặ.t mấy cái bánh rồi lủi mất dạng, thế là Chương Vọng Sinh cũng lẳng lặng bám theo sau.
Trên trời treo một mảnh trăng khuyết mỏng tang, tựa như vết móng tay bấm vào không trung, ánh sáng không bì được với các vì sao, chẳng đủ để soi tỏ điều gì. Cả ngôi làng đen thẫm nằm im lìm trong màn đêm.
Thập Ngũ ngồi trong đống rơm lúa mì gặm bánh, một ngày hai buổi cô bé chỉ đau đáu mỗi việc ăn, ngoài ra chẳng nghĩ ngợi gì thêm.
Chương Vọng Sinh không nhịn được bèn hỏi: “Này nhóc, em từng gặp anh chưa?”
Thập Ngũ hướng đôi mắt nhìn chằm chằm về phía cậu: “Gặp rồi.”
Chương Vọng Sinh lập tức tin rằng cô bé chính là Tiểu Trú, nhất định là vậy. Nhưng Thập Ngũ nhanh ch.óng bồi thêm một câu: “Người ta bảo anh quỳ lạy khóc thương cha, anh lại chẳng khóc, cứ nhìn đi đâu ấy.”
Cô bé nhỏ người, nấp giữa khe chân người lớn nên cái gì cũng thấy hết.
Chương Vọng Sinh lúc này mới hiểu câu “gặp rồi” của cô bé có nghĩa là gì. Cậu thoáng thất vọng, nhưng ngay sau đó lại tìm được lý do để tự trấn an: Cô bé này còn quá nhỏ, đương nhiên khó mà nhớ được chuyện từ lúc hai ba tuổi. Ngay chính cậu cũng chẳng nhớ nổi chuyện cũ thuở ấy.
Cậu bị anh chị gọi về nhà, còn Thập Ngũ thì ngủ luôn trong đống rơm. Ánh trăng mờ tối phủ lên người, cô bé l.i.ế.m l.i.ế.m môi, mơ thấy mình vớ được một cái đầu heo thật lớn.
Cả đêm ấy Chương Vọng Sinh chỉ nghĩ về Tiểu Trú. Ở cái tuổi này, cậu chẳng còn chơi đùa được với lũ trẻ con nữa, nhưng cậu nhớ Tiểu Trú, hy vọng có thể được gặp lại con bé lần nữa.
Thập Ngũ quả thực không đi đâu cả, ngày nào cũng lỳ mặt ở đống rơm nhà họ Chương.
Tang lễ đã xong xuôi, ngày tháng vẫn phải tiếp tục. Đội trưởng đội sản xuất mỗi ngày vẫn gõ chuông dưới gốc cây hòe theo lệ cũ để nhắc nhở mọi người đi làm đồng áng.
Nhà họ Chương chỉ có mỗi Phượng Chi là phụ nữ đi làm tính công điểm. Chương Vọng Triều phải dạy thay, Chương Vọng Sinh phải đi học, làm sao mà kiếm đủ công điểm được. Tổng kết cả năm lại chắc chắn phải bù tiền cho đội sản xuất, cũng may Chương Vọng Triều còn có mười đồng tiền dạy học mỗi tháng. Nhà họ Chương những năm trước vốn là bậc nhất nhì trong vùng này, tổ tiên từng có người thi đỗ cử nhân, tú tài. Đến đời Chương Văn Lương, ông đã hiến sạch đất đai, tài sản cho công xã, trở thành một hộ bần nông chính hiệu. Cộng thêm tính tình hiền hòa, ông cũng tránh được nhiều tai vạ. Nhưng không phải nhà nào có cảnh ngộ tương tự cũng làm được đến mức ấy, có người bị đưa ra công thẩm rồi bị b.ắ.n cho thủng một lỗ m.á.u, xác còn nóng hổi mà quần áo giày tất đã bị dân binh lột sạch. Nay Chương Văn Lương c.h.ế.t đi còn có được một tấm quan tài, có người khiêng tiễn, âu cũng là nhờ đức độ để lại.
Người nhà họ Chương ai nấy đều biết chữ, biết viết. Rất nhiều người trong làng có cái tên là do tú tài nhà họ Chương đặt cho. Hai anh em nhà Chương Vọng Triều, một người làm thầy giáo, một người tốt nghiệp tiểu học loại ưu rồi đỗ vào trường trung học của công xã, đều là những người cực kỳ thông minh.
Thập Ngũ tất nhiên là chẳng hiểu mấy chuyện đó, cô bé chỉ việc dán mắt vào ống khói nhà họ Chương. Hễ thấy khói bếp bốc lên là cô bé lại đứng tót ngoài hàng rào dâm bụt. Thời buổi này, nhà ai cũng khó mà nuôi thêm một miệng ăn, huống hồ nhà họ Chương và Thập Ngũ chẳng phải họ hàng thân thích.
Người nhà họ Chương chịu không nổi đôi mắt cứ nhìn chằm chằm như thế, bèn cho cô bé miếng ăn. Họ cũng biết càng cho thì cô bé càng đến, cho tới một ngày, Thập Ngũ khi đưa tay nhận bát đã thốt lên một tiếng: “Mẹ”. Phượng Chi đỏ bừng mặt, cô mới hai mươi tuổi, còn chưa có con mà.
Trong bát thực ra chẳng có gì mấy, chỉ là vài viên bột mì hỗn hợp cán mỏng, rắc nắm hành dại và chút muối. Thập Ngũ húp sùm sụp một loáng là sạch bách, lại còn dùng lưỡi l**m quanh một vòng, bát sáng bóng chẳng cần phải rửa.
Cô bé nói với Phượng Chi: “Mẹ ơi, con biết cắt cỏ lợn, còn biết kể chuyện trống ca nữa.”
Phượng Chi ngượng chín người: “Kìa, tôi không phải mẹ em, đừng gọi người ta như thế.” Kết hôn gần hai năm mà bụng dạ vẫn chưa có động tĩnh gì, vốn dĩ đã là nỗi niềm thầm kín, nay bị Thập Ngũ gọi như vậy, Phượng Chi cảm thấy vừa thẹn vừa bối rối.
Thập Ngũ cảm thấy người ta không hề ghét mình. Lần sau đến, trước cửa nhà họ Chương bỗng dưng xuất hiện một sọt đầy hoa hòe. Những bông hòe non mướt, ngon nhất là lúc vừa chớm nở như thế, Thập Ngũ đã trèo cây tuốt xuống từ đêm qua, đầy ắp cả một sọt, cướp lấy thời cơ trước tất thảy mọi người ở công xã Nguyệt Hòe Thụ.
Hàng ngày Chương Vọng Sinh và anh hai phải đi bộ nửa tiếng đến trường. Trước khi ra khỏi cửa, cậu nhìn thấy số hoa hòe này, những chiếc lá xanh mướt ôm lấy cánh hoa trắng tinh, tươi rói vô cùng. Bên cạnh đống hoa hòe còn có mấy con chuột đồng đã c.h.ế.t nằm đó. Thập Ngũ xách đuôi chúng lên, nhìn hai anh em với vẻ cầu tài: “Em bắt được năm con chuột đồng, có năm cái đuôi đây, đưa hết cho mấy anh. Em bắt chuột đồng giỏi lắm, còn biết cắt cỏ nữa!”
Xã viên diệt chuột, nộp đuôi chuột cũng được tính công điểm. Trời mới biết đứa nhỏ này đã hái hoa hòe thế nào, bắt chuột đồng ra sao. Chương Vọng Triều có chút ngạc nhiên, nhìn xuống bàn chân trần không giày của cô bé, quả nhiên có mấy vết xước đỏ rớm m.á.u.
“Em biết đếm à?” Chương Vọng Sinh chủ động đáp lời, cứ nhìn chằm chằm vào khuôn mặt nhỏ nhắn của cô bé. Cô bé trông lanh lợi quá, giống Tiểu Trú quá chừng. Tiểu Trú hai tuổi đã biết đếm, còn thuộc được một đoạn Thiên Tự Văn.
Nhưng Thập Ngũ chẳng thèm đoái hoài đến cậu mà chỉ nhìn Chương Vọng Triều một cách đầy nhiệt thành. Cô bé hiểu chuyện lắm, biết người đứng đầu gia đình này chính là người đàn ông kia.
Chương Vọng Triều nói khẽ với Phượng Chi vài câu rồi mỉm cười với Thập Ngũ, dẫn Chương Vọng Sinh hướng về phía trường học.
“Anh hai, anh định thế nào?” Chương Vọng Sinh hỏi. Chương Vọng Triều bị nhiễm lạnh từ hồi trước Tết, mùa xuân cũng sắp trôi qua rồi mà anh vẫn còn ho, Chương Vọng Sinh bèn sờ sờ vào tay áo anh: “Anh hai.” Trên tay áo đắp một miếng vá lớn nhưng được giặt giũ vô cùng sạch sẽ.
Gương mặt Chương Vọng Triều trắng bệch, ho đến đỏ cả người: “Anh cũng không biết nữa. Thêm một miệng ăn là chị dâu em lại vất vả thêm. Vả lại, mình cũng chẳng biết con bé là con cái nhà ai, biết đâu cha mẹ nó đang đi tìm người.”
Chương Vọng Sinh không nói gì. Cậu hiểu, chị dâu theo đội sản xuất, việc gì cũng phải bỏ sức ra làm. Xuân trồng thu gặt, đào ao đắp đê, rồi lại phải lo cho mảnh vườn riêng của gia đình. Chị dâu vốn là người phụ nữ thanh tú mà phải dốc sức như đàn ông.
Chỉ khi nào nghỉ học, hai anh em mới có thể giúp người phụ nữ duy nhất trong nhà kiếm thêm công điểm, nhưng cả hai cộng lại cũng chẳng bằng một phần sức của Lang Hài. Theo lời các cụ, hai anh em nhà này sinh ra là để ăn cơm thư sinh rồi.
Nhà họ Chương không phải chưa từng có những nhân vật như thế. Những năm mười mấy của thời Dân quốc, anh cả của Chương Văn Lương đã tới Thượng Hải học tập, sau đó còn ra nước ngoài. Đến đêm trước ngày lập quốc thì chẳng rõ đã chạy đi đâu, bặt vô âm tín. Vì không có tin tức gì nên gia đình mặc định là đã c.h.ế.t ở xứ người. Thời buổi binh đao loạn lạc, người c.h.ế.t là chuyện thường tình nhất.
Hai anh em tan học về nhà, Thập Ngũ khi này đã giúp Phượng Chi đun bếp rồi. Nhỏ tuổi nhưng làm việc rất thoăn thoắt, cành cây khô đặt lên đầu gối bẻ một cái rắc, đốt lò lửa đỏ rực. Thập Ngũ vừa đun vừa hỏi: “Em không gọi chị là mẹ thì gọi là gì ạ?”
Phượng Chi đang nhào bột, đắp bánh cao lương lên thành nồi: “Thì… cứ gọi là chị đại đi.”
Thập Ngũ bảo: “Em muốn gọi mẹ cơ.” Cô bé chỉ nhớ mỗi danh xưng mẹ, còn mẹ trông như thế nào thì chẳng có chút ký ức nào cả.
Phượng Chi đỡ lấy cái lưng mỏi nhừ, dùng mu bàn tay gạt lọn tóc: “Ôi, tôi làm sao mà đẻ được cô con gái lớn thế này chứ.”
Thập Ngũ buồn bã nhét thêm nắm cành khô vào lò, Phượng Chi không chịu làm mẹ của cô bé rồi. Cô bé muốn có mẹ, Phượng Chi nhìn hiền hậu lắm, nhưng lại không phải mẹ mình. Cô bé nghĩ bụng, nếu gọi là mẹ thì người ta sẽ không đuổi mình đi nữa.
“Em cũng kiếm được công điểm mà.” Thập Ngũ nói với Phượng Chi một cách rất nghiêm túc. Phượng Chi bật cười: “Em thì bao lớn mà đòi kiếm công điểm?”
“Thật mà, em biết cắt cỏ nhặt phân, còn bắt được cả chuột đồng, công điểm em kiếm được sẽ đưa hết cho chị.”
Phượng Chi dần tắt nụ cười, cô không thể nhìn thẳng vào đôi mắt sáng rực của Thập Ngũ, nó hừng hực quá, khiến người ta chẳng nỡ nhìn. Cô đ.á.n.h trống lảng, bảo lửa cháy to quá rồi.
Bữa tối là bánh cao lương và hoa hòe hấp. Hoa hòe vừa mềm vừa thơm, thêm chút muối, rưới dầu ớt, gói trọn cái vị mộc mạc nhất của mùa xuân này.
Thập Ngũ bưng bát sứ, trên bát vẽ hình những con cá vàng đỏ rực rất đẹp. Cô bé biết ý chạy ra ngoài ngồi, ngẩng đầu là thấy trăng. Trăng đã lớn hơn rồi, trăng treo cô độc trên đó chỉ có một mình, cô bé cũng chỉ có một mình.
Người nhà họ Chương đang bàn bạc xem nên làm gì với đứa trẻ này. Nói cũng buồn cười, sao cô bé lại cứ nhắm đúng cửa nhà mình mà vào? Chương Vọng Triều đang bàn với Phượng Chi, anh nói năng nhã nhặn, chưa bao giờ lớn tiếng. Phượng Chi bảo: “Anh cứ quyết định là được, em đều nghe anh.”
Ánh trăng phủ lên người, Chương Vọng Sinh ngồi dưới màn bạc ánh trăng ăn hoa hòe. Vừa nếm vị hoa hòe, cậu đột nhiên nhớ đến cha. Cha đã bệnh rất lâu, chịu bao nhiêu khổ cực, đêm hôm đau quá thì lại khẽ gọi mẹ. Chương Vọng Sinh vừa ăn hoa hòe là mọi chuyện đều hiện về, từng ngày từng đêm khi cha còn sống bỗng chốc đè nặng lên vai. Chương Vọng Sinh khẽ nheo mắt, ánh trăng hóa thành những mũi kim bạc, đ.â.m tua tủa ra bốn phương tám hướng.
Cậu hy vọng linh hồn của cha trên trời có thể để Tiểu Trú trở về. Đợi cậu lau vội nước mắt, liền nghe anh hai bảo: “Vọng Sinh, em gọi Thập Ngũ vào đây.”
Tim Chương Vọng Sinh khẽ run lên: “Anh hai…”
Chương Vọng Triều nói: “Đi đi, gọi con bé vào đây, anh có chuyện muốn nói với nó.”