Hôm nay vẫn là người ấy, vẫn là ánh mắt ấy, nhưng đã dành cho một người khác.
Lễ thành.
Giang Tĩnh Uyển được đưa vào động phòng, khách khứa bắt đầu nâng chén, tiếng cười nói nhanh ch.óng tràn ngập cả sân.
Ta cầm chén rượu bước tới chủ vị, đứng thẳng trước mặt phụ thân, giọng nói rõ ràng xuyên qua tiếng huyên náo.
“Phụ thân, lễ đã thành.”
“Chuyện người đã đáp ứng ta cũng nên thực hiện rồi.”
Cả sảnh lập tức yên tĩnh.
Mọi ánh mắt đều chuyển về phía chúng ta.
Tay phụ thân run lên, rượu trong chén đổ ra gần nửa.
Ông nghiến răng, cố hạ giọng.
“Dĩ Ninh, ngày đại hỷ, con đừng gây chuyện!”
“Ta không gây chuyện.”
Ta nâng chén rượu trong tay.
“Ta rất vui.”
“Muội muội đã xuất giá, thế t.ử được như nguyện, phụ thân cũng thỏa lòng.”
“Bây giờ chỉ còn một việc nhỏ của ta.”
“Địa khế của mẫu thân, xin người trả lại.”
Sắc mặt Ngô thị xanh lét, đang định mở miệng mắng thì bị phụ thân giữ lại.
Ông nhìn chằm chằm vào ta, giống như muốn dùng ánh mắt xuyên thủng người ta ngay trước mặt tất cả tân khách.
Nhưng cuối cùng ông vẫn không dám phát tác.
Người của Định Viễn Hầu phủ đang ngồi đây, mấy nhà thế giao cũng có mặt, ông không thể mất mặt trước bao nhiêu người.
Cuối cùng phụ thân lấy từ trong tay áo ra một tờ giấy cũ đã được gấp ngay ngắn, đập mạnh xuống bàn.
“Cầm lấy!”
“Cút!”
Ta bình tĩnh cầm tờ giấy lên, đưa ra trước ánh sáng kiểm tra chữ viết và ấn tín, xác nhận không sai mới gấp lại, cất vào trong n.g.ự.c.
Sau đó ta lùi một bước, nâng chén hướng về toàn bộ tân khách, cuối cùng nhìn về phía đôi tân nhân vừa khuất bóng.
“Chúc muội muội và thế t.ử bạch đầu giai lão, vĩnh kết đồng tâm.”
Ta ngửa đầu uống cạn chén rượu.
“Cũng chúc Tô Ninh ta từ nay về sau, cùng Giang gia không còn bất kỳ liên quan gì nữa.”
Ta đặt chiếc chén trống xuống bàn, xoay người bước ra ngoài.
Phía sau là tiếng phụ thân mắng c.h.ử.i, tiếng Ngô thị thét lên, cùng vô số tiếng khách khứa thì thầm.
Những âm thanh ấy từng lớp từng lớp như sóng đuổi theo, nhưng cuối cùng chẳng còn chạm tới ta được nữa.
Ta bước qua cánh cổng sơn son.
Gió đêm thổi thẳng vào mặt, lành lạnh, giống hệt cơn gió đêm ta bước vào Thạch Tuyền tự ba năm trước.
Tiểu Hồi chạy theo, thở hổn hển.
“Cô nương, chúng ta đi đâu?”
Ta đưa tay sờ địa khế trong n.g.ự.c.
Mép giấy đã xơ, là dấu vết mẫu thân từng nhiều lần gấp mở.
Ta ngẩng đầu nhìn trời.
Trên cao đầy sao, phía tây có một vì sao cực sáng treo trên đường viền núi, giống như một đôi mắt im lặng mà dịu dàng.
“Đi Tây Sơn.”
“Xem ngọn núi của mẫu thân ta.”
Tây Sơn cách kinh thành hơn ba mươi dặm.
Khi chúng ta vượt qua bụi cỏ cao đến đầu gối cuối cùng, đứng dưới chân núi thì trời đã gần sáng, phía chân trời vừa hiện lên màu xanh nhạt như vỏ cua.
Trước mắt quả thật là một ngọn núi hoang đúng nghĩa.
Khắp núi đều là đá vụn, cỏ khô và những bụi gai cao gần nửa người mọc lung tung. Mấy cây du già thân cong thưa thớt đứng trên sườn núi, nhìn từ xa càng khiến nơi này thêm phần hoang vắng.
Không có đường.
Không có mương.
Cũng chẳng có một mảnh đất bằng phẳng nào ra hồn.
Xa xa có một khe núi, thấp thoáng truyền tới tiếng nước, hẳn là nguồn nước sống.
Ngoài những thứ ấy ra, gần như chẳng có gì.
Tiểu Hồi đứng phía sau ta, nghẹn nửa ngày mới thốt được một câu.
“Cô nương, ngọn núi này... đúng là hoang thật.”
Ta bỗng bật cười.
Cúi người cười rất lâu, đến mức Tiểu Hồi sợ hết hồn.
Nàng tưởng ta phát điên.
Thật ra ta chỉ đang vui.
Đây là đồ của mẫu thân.
Bất kể nó hoang thế nào, xấu thế nào, không đáng tiền thế nào, nó vẫn là của bà.
Nó vẫn nguyên vẹn thuộc về bà, không bị ai cướp mất, cũng chưa từng bị ai làm bẩn, cứ như vậy yên ổn nằm ở đây suốt bao năm, chờ ta tới nhận về.
Ta lấy địa khế từ trong n.g.ự.c ra, giơ dưới ánh ban mai nhìn thêm một lần.
Bên trên viết rất rõ:
“Sản nghiệp hồi môn của Tô thị.”
Nhà ngoại mẫu thân chỉ là một hộ nhỏ ở Giang Nam, của hồi môn không nhiều, chỉ có một ngọn núi này.
Bà giữ nó cả đời.
Cuối cùng lại bị Ngô thị dùng một câu “không quản nổi” thu đi.
Ta tìm một tảng đá tương đối phẳng ngồi xuống, lấy trong hành lý hai chiếc màn thầu nguội, chia cho Tiểu Hồi một cái.
“Tiểu Hồi, chúng ta sẽ an gia ở đây.”
“Ở... ngay đây sao?”
“Ngay đây.”
Ta chỉ về một sườn dốc thoải nằm lưng chừng núi, vừa khuất gió vừa hướng nắng.
“Nơi đó địa thế khá bằng phẳng, lưng dựa vách núi, phía trước lại rộng, nguồn nước cũng gần.”
“Trước tiên dựng một cái lều để ở, sau đó dọn cỏ, khai đất từng chút một.”
Chúng ta dùng tay đào, dùng gỗ khô dựng, mất trọn ba ngày mới dọn ra được một khoảng đất trống.
Đến đêm thứ tư, một trận mưa xuân đổ xuống, tưới ướt hoàn toàn cái lều vừa dựng.
Ta và Tiểu Hồi chỉ có thể ôm chăn co trong góc, lạnh đến run người suốt cả đêm.
Nhưng sáng hôm sau, mưa đã ngừng.
Ánh nắng xuyên qua mây chiếu xuống, trên sườn núi ướt nước bắt đầu nhú ra những mầm cỏ non li ti. Trong không khí tràn ngập mùi bùn đất hòa cùng hương cỏ cây thanh đắng.
Ta đứng trước cửa, hít sâu một hơi.
Đây là mùi mà mẫu thân từng ngửi thấy.
Ngày tháng sau đó cứ thế chậm rãi trôi qua.
Ban ngày, ta và Tiểu Hồi c.h.ặ.t cỏ, chuyển đá, đào đất, dẫn nước. Đến tối, ta mượn ánh trăng đem d.ư.ợ.c liệu nhặt được ra phơi, rồi phân loại từng thứ.
Những thứ vị lão y tăng năm xưa từng dạy, lúc này cuối cùng đều có chỗ dùng.
Trong khe đá râm mát có thạch hộc.
Trong bùn ẩm bên suối có kim tuyến liên.
Trên sườn dốc hướng nắng, ngải dại và ích mẫu mọc đầy.
Mẻ d.ư.ợ.c liệu đầu tiên được phơi khô, ta đi mười dặm tới trấn, đổi lấy gạo, bột, dầu và muối.
Bạc không nhiều, nhưng cũng đủ cho ta và Tiểu Hồi ăn no nửa tháng.