Người ta căm ghét nhất trên đời, từ nhỏ đến lớn vẫn luôn là Giang Nam Thu, độc t.ử của phủ Trấn Viễn Tướng quân.
Hắn chê ta thô lỗ, chẳng dịu dàng bằng trưởng tỷ.
Ta liền mắng hắn cục cằn, không biết săn sóc người khác được như Thái t.ử.
Hai đứa cứ thế từ đầu phố đ.á.n.h đến cuối ngõ, gây náo loạn đến mức cả Kinh thành đều biết danh đôi oan gia này.
Nào ngờ nhiều năm sau, giữa sa trường cát bụi ngút trời, ta lại cùng hắn đẩy quân Mông quốc lùi xa năm trăm dặm khỏi bờ cõi Đại An.
Khi ấy, ta quay đầu, bật cười hỏi hắn: “Giang Nam Thu, giờ ngươi còn dám bảo ta thô bạo nữa không?”
Thế nhưng phía sau ta chỉ còn khoảng trống mênh mang, bóng người quen thuộc kia đã chẳng còn đứng ở đó nữa.
Ta và Giang Nam Thu từ bé đã là hai kẻ khiến cả Kinh thành đau đầu nhất.
Hắn là độc t.ử phủ Trấn Viễn Tướng quân, còn ta là thứ nữ của phủ Trường Bình Hầu.
Không rõ oan nghiệt bắt đầu từ đâu, chỉ biết từ thuở còn nhỏ, hễ gặp nhau là chúng ta chẳng có mấy khi yên ổn.
Có lần ta trèo lên cây lấy trứng chim, hắn trông thấy liền nhất quyết trèo cao hơn ta.
Ta tức đến phát khóc, cuối cùng cả hai bị người lớn túm cổ lôi về, cùng chịu một trận quở phạt.
Lại có lần ta ngồi ngoài phố ăn bánh bao, hắn cũng phải hơn thua xem ai ăn được nhiều hơn.
Kết quả hai đứa no căng bụng, ngồi xổm trước quán nôn đến trời đất tối sầm.
Người qua đường còn tưởng bánh bao của tiệm có độc, làm chủ quán tức đến mức từ đó hễ thấy chúng ta là nhất quyết không chịu bán nữa.
Ta trêu mèo, hắn dắt ch.ó đến dọa cho mèo chạy mất.
Ta nổi giận, hắn lại ôm bụng cười ngặt nghẽo.
Nói cho cùng, bất kể ta muốn làm gì, hắn cũng phải chen vào đối nghịch một phen.
Tính ta vốn nóng, lại không chịu thua, thành ra ngày nào hai đứa cũng chí ch.óe không ngừng.
Phụ thân thường dạy rằng nữ nhi nên chăm đọc sách, luyện chữ, học làm thơ như trưởng tỷ.
Ta cũng từng cố gắng, nhưng cây b.út trong tay dường như chẳng chịu nghe lời, trơn tuột chẳng khác nào con lươn.
Có hôm ta nghiêm túc vẽ một bức hoa rụng mùa thu, ngồi cả buổi mới hoàn thành.
Giang Nam Thu vừa nhìn đã cười lăn cười bò, còn phán rằng: “Bức này vẽ cảnh lợn rừng săn mồi thật sống động.”
Ta tức tối vung b.út định chọc hắn, rồi chẳng biết thế nào lại biến thành một trận vật lộn làm cả thư phòng rối tung.
Cuối cùng, cả hai lại bị người lớn mắng cho một trận.
Trưởng tỷ của ta, Hứa Thanh Từ, là tài nữ nổi danh khắp Kinh thành.
Nàng cầm b.út có thể vẽ non xanh nước biếc, tùy ý ngâm vài câu cũng đủ khiến người ta truyền tụng.
Còn ta, nếu phải kể một sở trường khiến người khác kinh ngạc, đại khái chỉ có thể là một bữa ăn hết cả con heo sữa quay.
Ta từng nghiêm túc hỏi mẫu thân rằng có phải lúc sinh trưởng tỷ, bà đã dùng hết thông minh tài cán, đến lượt sinh ta thì chẳng còn lại bao nhiêu hay không.
Mẫu thân nghe xong cười đến rung vai, đưa tay xoa đầu ta.
Bà bảo: “Trên đời này, ai cũng có chỗ giỏi, chỗ dở riêng của mình.”
“Nhã Nhã nhà ta chỉ là chưa tìm thấy sở trường của con mà thôi.”
Nghe vậy, ta lập tức vui hẳn lên, vỗ n.g.ự.c tuyên bố: “Con, Hứa Thanh Nhã, giỏi nhất là trèo cây lấy trứng chim.”
Ta còn hỏi rất nghiêm túc: “Mẫu thân, vậy có tính là sở trường không?”
Bà véo má ta một cái, dịu giọng đáp: “Nhã Nhã còn nhỏ, cứ từ từ rồi sẽ biết.”
Miệng nói ta không cần vội, nhưng mẫu thân chưa từng lơi lỏng chuyện học hành.
Trong phủ còn đặc biệt mời tiên sinh về dạy ta đọc sách, viết chữ, đ.á.n.h đàn, vẽ tranh.
Đáng tiếc, những thứ ấy ta chẳng thích nổi một món.
Trưởng tỷ thường sang trông chừng ta học, có lần ta nhịn không được bèn hỏi: “Trưởng tỷ, nữ t.ử ngoài mấy việc này ra, chẳng lẽ không còn chuyện gì khác để làm sao?”
Nàng bị ta hỏi đến ngẩn ra, suy nghĩ hồi lâu mới lắc đầu.
Nàng nói: “Nhã Nhã, học cho tốt những thứ này vốn là việc nữ t.ử nên làm.”
Ta cúi đầu tiu nghỉu một lúc, rồi chợt ngẩng lên hỏi tiếp: “Vậy võ công thì sao?”
“Nữ t.ử có thể học võ không?”
Trưởng tỷ khựng lại, đáp rằng nữ t.ử vốn yếu hơn nam nhân, học võ e là không thích hợp.
Ta không phục, nghiêm túc nói: “Nếu muội muốn thử thì sao?”
“Muội không tin cứ là nữ t.ử thì nhất định không được học.”
Ý nghĩ ấy thật ra đã nhen nhóm trong lòng ta từ khi Giang Nam Thu bắt đầu luyện võ.
Hắn học được chút bản lĩnh liền ba ngày hai bận chạy tới khoe khoang, còn nói sau này mình nhất định sẽ trở thành đại anh hùng, giống như phụ thân, các vị thúc bá và tổ phụ của hắn, bảo vệ thiên hạ thái bình.
Khi ấy hắn còn gầy nhẳng như gà con, ta nghe xong liền ôm bụng cười.
Ta thật sự chẳng tưởng tượng nổi một Giang Nam Thu suốt ngày gây chuyện lại có thể trở thành đại anh hùng kiểu gì.
Hắn bị ta cười đến đỏ mặt, chống nạnh quát: “Hứa Thanh Nhã, bây giờ ngươi cứ cười đi.”
“Sau này đừng có khóc lóc cầu đại anh hùng là ta bảo vệ ngươi.”
Ta lập tức làm mặt quỷ: “Ai thèm ngươi bảo vệ!”
Về sau hắn có một thanh kiếm riêng, tuy lưỡi kiếm chưa được mài sắc, nhưng ngày nào cũng mang đến trước mặt ta khoe.
Thuở đầu hắn múa loạn cả lên, nhìn chẳng ra hình dáng gì.
Thế nhưng luyện lâu ngày, động tác lại dần có vài phần khí thế.
Mấy hôm trước, hắn lại đến chọc ghẹo ta như thường lệ.
Dạo ấy hắn cao lên rất nhanh, vai lưng cũng rắn rỏi hơn trước, đứng ngay trước mặt ta bỗng có cảm giác như che mất một mảng trời.