Quân địch nhân lúc Đại Ung thay chủ tướng, liên tiếp phá hai tòa thành biên giới. Ba đạo quân báo khẩn cấp được đưa về kinh thành, Hoàng đế triệu Tạ Trầm Chu vào cung ngay trong đêm.
Ai cũng cho rằng hắn sẽ yêu cầu khôi phục khế gánh họa.
Hắn không làm vậy.
Ngày hôm sau, hắn khoác giáp ra khỏi thành. Trước khi đi, hắn chỉ nhờ Thanh Ninh chuyển cho ta một lá thư.
Trong thư không có lời cầu xin ta tha thứ, cũng không nhắc đến chuyện tái hợp.
“Kiến Vi: Thương cũ còn lại chín khoản, muộn nhất đến ngày thứ bốn mươi chín sẽ kết thúc. Ta đã dặn quân y, khi phát tác sẽ giao việc chỉ huy cho phó tướng, không tiếp tục để bất kỳ ai gánh họa thay mình. Nếu ta c.h.ế.t trận, bạc Hầu phủ còn nợ nàng, cùng toàn bộ thưởng ban ta nhận được những năm qua, sẽ dùng để bồi thường cho những nữ t.ử từng bị khế gánh họa trong quân làm hại. Hòa ly thư đã ký, đặt tại chỗ Phương nữ sử. Nàng chưa bao giờ là thiếp của Tạ gia. Là ta nợ nàng tự do, hôm nay trả lại.”
Cuối thư chỉ có ba chữ: Tạ Trầm Chu.
Trúc Thanh đọc xong, hỏi: “Cô nương muốn đi tiễn ngài ấy không?”
“Không.”
Ta cất thư vào ngăn kéo, tiếp tục sửa sang đơn kiện.
Hắn bằng lòng tự mình gánh chịu thương tích là chuyện hắn nên làm, không cần ta dùng nước mắt để thưởng cho hắn.
Nhưng sau khi Tạ Trầm Chu rời kinh, mọi tiếng c.h.ử.i rủa lại đổ lên đầu ta.
Thuyết thư tiên sinh đem chiến sự thất bại bịa thành câu chuyện, nói Định Viễn Hầu vốn là thiên thần hạ phàm, nhưng bị độc phụ giải thần khế, nên mới mang đầy thương tích bệnh tật.
Có người hắt m.á.u ch.ó trước cửa quán khế, mắng ta là họa thủy vong quốc.
Cũng có người gửi đến một dải lụa trắng, bảo ta tự tận tạ tội.
Trúc Thanh tức giận muốn báo quan, ta ngăn nàng lại, treo dải lụa trắng trước cửa, bên cạnh thêm một dòng chữ: Hôm nay ai đưa lụa trắng ép nữ nhân gánh họa, ngày sau đều có thể bị kẻ mạnh hơn ép lấy mạng mình đổi mạng người.
Tiếng c.h.ử.i rủa giảm đi một nửa.
Một nửa còn lại cũng im bặt khi quân báo đầu tiên truyền về.
Tạ Trầm Chu dẫn tàn binh lui giữ Bạch Lang Quan, không mạo hiểm tập kích như trước, mà phá cầu sông, thực hiện kế vườn không nhà trống, cố thủ kéo dài quân địch suốt mười ngày. Đêm ngày thứ mười, viện quân tới nơi, Thanh Ninh đích thân áp tải quân lương vào quan.
Quân báo thứ hai nói, lúc thương cũ phát tác, hắn giao soái ấn cho phó tướng, không cố sức gượng chống, trái lại dụ địch tiến sâu, một trận thu hồi thành đã mất.
Nhưng quân báo thứ ba chỉ có tám chữ.
“Chủ soái trúng tên, sống c.h.ế.t chưa rõ.”
Mũi tên trúng n.g.ự.c trái.
Trúc Thanh đọc xong, sắc mặt thay đổi: “Cô nương, có phải đây là mũi tên cuối cùng trong khế không?”
“Không phải.”
Ba mươi hai khoản thương cũ, từng vết ta đều nhớ rõ. Mũi tên cuối cùng ở n.g.ự.c phải, xuyên qua xương bả vai, chính là đại kiếp đầu tiên của hắn sáu năm trước.
Mũi tên nơi n.g.ự.c trái này là thương tích thật sự hắn phải chịu lần này.
Nó sẽ không chuyển sang bất kỳ ai.
Ba ngày sau, thư khẩn của Thanh Ninh được đưa về kinh.
Tạ Trầm Chu vẫn còn sống, nhưng đầu tên có độc. Quân y có thể rút tên, nhưng không thể áp chế độc tính. Thuật sĩ trong cung đưa ra một cách: dùng khế gánh họa chuyển độc tên sang người có huyết thống hoặc người vợ cũ, Tạ Trầm Chu sẽ lập tức tỉnh lại.
Cuối thư, Thanh Ninh viết: “Triều đình đã sai người đến tìm cô. Nếu cô không muốn, không cần mở cửa. Ta sẽ giữ quân doanh, không để bất kỳ ai ép cô ấn dấu tay.”
Ta vừa đọc xong, bên ngoài đã truyền đến tiếng bước chân chỉnh tề.
Cấm quân bao vây quán khế.
Thái giám truyền chỉ mở thánh chỉ: “Dân nữ Tô Kiến Vi tiếp chỉ. Quốc nạn trước mắt, đặc lệnh ngươi lập tức đến Ty Gánh Họa, lập khế cứu mạng bốn mươi chín ngày. Sau khi thành việc, phong nhất phẩm Hộ Quốc phu nhân.”
Ta quỳ trên đất, bình tĩnh hỏi: “Nếu dân nữ không nhận thì sao?”
Thái giám thở dài: “Tô cô nương, kháng chỉ là tội c.h.ế.t.”
Ta vẫn đi đến Ty Gánh Họa.
Không phải để ký khế, mà để hỏi Hoàng đế một câu.
“Hôm nay có thể vì cứu chủ soái mà ép ta gánh họa, ngày mai có thể vì cứu hoàng t.ử mà ép cung nữ mượn thọ hay không? Ngày kia có thể vì cứu bệ hạ mà rút cạn mạng sống của nữ t.ử trong thiên hạ hay không?”
Cả sảnh quan viên không một ai trả lời.
Hoàng đế ngồi trên cao, sắc mặt âm trầm: “Tô Kiến Vi, trẫm chỉ hỏi ngươi, có cứu hay không?”
“Không cứu.”
Binh bộ Thượng thư mắng: “Tạ Hầu gia vì ngươi mất khế hộ thân, vậy mà vẫn mang thương xuất chinh. Nay ngài ấy vì nước trúng tên, ngươi ngay cả một ngày độc cũng không chịu thay ngài ấy gánh?”
“Trước khi xuất chinh chàng đã viết rất rõ, không tiếp tục để bất kỳ ai gánh họa thay mình.” Ta ngẩng đầu. “Đại nhân lúc này ép ta ký, là cứu chàng, hay muốn dù chàng tỉnh lại cũng phải mang thêm một mạng người trên lưng?”
“Ngươi có thể tự nguyện.”
“Bị cấm quân áp giải đến đây mà gọi là tự nguyện sao?”
Ta lấy từ trong n.g.ự.c ra một xấp danh sách.
“Đây là hai nghìn một trăm sáu mươi ba người c.h.ế.t vì khế gánh họa trong mười năm qua. Trong đó một nghìn chín trăm tám mươi bảy người là nữ t.ử, người nhỏ nhất mới mười hai tuổi. Khi họ c.h.ế.t, có ai hỏi họ có bằng lòng hay không?”
Những danh sách này do ta, Phương nữ sử và mọi người trong quán khế từng trang từng trang chép lại từ hồ sơ cũ.
Sau mỗi cái tên đều có một người được hưởng lợi. Có tướng quân, có phú thương, có quan viên, có phụ thân, có phu quân.
Họ sống sót, cho nên người c.h.ế.t chỉ còn lại một câu “thể yếu, c.h.ế.t sớm”.
Hoàng đế im lặng hồi lâu: “Ngươi muốn gì?”
“Bãi bỏ khế đơn phương gánh họa. Mọi khế phụ thuộc trong hôn nhân đều phải đọc rõ từng điều khoản bằng miệng, hai bên đích thân xác nhận; mỗi năm kiểm tra lại một lần, bất kỳ bên nào cũng có quyền chấm dứt; người chưa đủ mười tám tuổi không được gánh họa; kẻ cưỡng ép, lừa gạt lập khế, xử tội mưu hại.”
Binh bộ Thượng thư cười lạnh: “Vì muốn sửa luật, ngươi liền lấy tính mạng chủ soái biên cương uy h.i.ế.p triều đình?”