“Vừa rồi trên boong, ngươi thấy dòng triều chạy về đâu?”
Ta nhắm mắt, nhớ lại hướng sóng đ.á.n.h tới rồi cầm tấm đo sao lên ước lượng.
“Phía tây nam có một dòng hồi lưu.”
“Nếu chờ nửa đêm gió yếu đi rồi cắt qua thủy đạo này, có lẽ tránh được bãi đá.”
Lục Tự Bạch nhìn đường ta vạch ra, im lặng một lúc rồi gọi thuyền trưởng tới.
Thuyền lão đại xem kỹ, vỗ bàn nói có thể thử.
Đêm ấy, thuyền đội đổi hướng theo tuyến đường ta và thuyền trưởng đã định.
Trời vừa sáng, mây đen tan dần, phía trước quả nhiên lộ ra một vùng nước yên.
Bãi đá đã ở sau lưng chúng ta, chim biển lướt qua đầu thuyền, cánh quạt lên những tia nước vụn.
Xuân Đào ôm một bát canh gừng chạy tới, ngồi xuống bên ta.
“Đông gia, tối qua ta suýt khóc.”
“Tối qua ngươi sợ đến muốn khóc cũng chẳng có gì mất mặt.”
Ta nhận canh gừng, uống một ngụm rồi nói.
“Cuối cùng ngươi không buông dây, vậy là đủ.”
Nàng cười, lại lén hỏi ta: “Vệ phu nhân có phải rất lợi hại không?”
Ta nhìn sang đầu kia boong thuyền.
Vệ Hành đã thay quần áo khô, đang ngồi xổm cạnh Lục Tự Bạch, ép chàng uống t.h.u.ố.c.
Lục Tự Bạch nhíu mày, vẻ mặt đầy không tình nguyện, Vệ Hành liền đưa bát t.h.u.ố.c sát hơn.
“Vệ phu nhân rất lợi hại.”
“Nàng cũng sẽ nhìn chằm chằm Lục đại nhân ăn cơm uống t.h.u.ố.c đúng giờ, trên thuyền không ai dám qua loa trước mặt nàng.”
Xuân Đào không nhịn được cười thành tiếng.
Sau khi tới đảo cảng, chúng ta dùng vải buồm, đồ sứ và hàng muối đổi được một lượng lớn d.ư.ợ.c liệu.
Thương nhân bản địa rất hứng thú với kỹ thuật dệt buồm chúng ta mang tới.
Lục Tự Bạch bảo ta và mấy thợ thủ công ở lại, dạy họ cách phủ lớp chống ẩm lên buồm.
Ta dùng hình vẽ đơn giản giảng suốt ba ngày.
Chưởng quầy bên kia cầm mảnh vải mẫu vừa dệt, liên tục hành lễ với ta.
Khoảnh khắc ấy, ta bỗng nhận ra mỗi câu mình nói đều có người nghiêm túc lắng nghe.
Ta không còn là người vợ đứng bên Tạ Lâm Xuyên, thay chàng gom tiền, thay chàng giữ nhà.
Vết chai trên tay ta, chữ trong sổ, những hướng gió từng nhìn, những nút dây từng thắt, dần dần ghép thành một con đường khác.
Sau khi về kinh, mọi chuyện không lập tức thuận lợi.
Hải đồ, phiếu hàng và mẫu hỏa khí kiểu mới Lục Tự Bạch mang về khiến triều đình tranh luận rất lớn.
Có người nói mở biển tốn kém bạc tiền, thương nhân chỉ cầu lợi, sẽ dẫn hải họa tới.
Cũng có kẻ vin vào vụ xưởng thuyền, chỉ trích Lục Tự Bạch cấu kết ngoại thương.
Tạ Lâm Xuyên cũng dâng tấu.
Chuyện này là Hạ Huyền Độ, một thông dịch quan, kín đáo nói cho ta biết.
Hạ Huyền Độ từng theo thuyền đi Nam Dương vài lần, biết sáu thứ tiếng, ngày thường ít lời.
Khi đưa cho ta một bản sao tấu chương, sắc mặt hắn rất trầm.
“Tạ Lâm Xuyên nói nữ nhân trà trộn lên hải thuyền, làm tổn hại phong hóa.”
“Hắn còn nói Lục đại nhân mượn hải mậu để vơ vét tiền tài.”
“Trong tấu chương tuy không nêu tên ngươi, nhưng lời lẽ đã viết rất rõ.”
Ta đọc hết mấy trang giấy, ngón tay siết c.h.ặ.t.
Vệ Hành ngồi bên cửa sổ lau thương, nghe tới đây liền đặt mạnh cán thương xuống.
“Bản thân hắn cưới con gái ân sư, dựa vào quan hệ bên nhà vợ mà bước vào quan trường, vậy mà còn có mặt mũi quản người khác làm việc thế nào.”
Lục Tự Bạch từ gian trong đi ra.
Tinh thần chàng tốt hơn lúc trên thuyền, nhưng vẫn hơi yếu.
“Chuyện trên triều giao cho ta ứng phó.”
“Mọi người đừng vì một bản tấu mà rối tay chân.”
“A Thân, nếu chàng chỉ chờ bọn họ xử lý, sẽ bị người ta chặn đến c.h.ế.t.”
Vệ Hành đứng dậy, giọng rất gấp.
Lục Tự Bạch nắm cổ tay nàng.
“Ta đã đưa chứng cứ tới Đại Lý Tự, số bạc liên quan vụ xưởng thuyền cũng đang được tra.”
“Lúc này nếu đối đầu cứng rắn trên triều, bọn họ sẽ lấy cuộc tranh chấp này làm cớ.”
Vành mắt Vệ Hành lập tức đỏ lên.
Trước kia ta chỉ thấy nàng cầm thương giữa sóng gió, cũng từng thấy nàng đuổi theo thuyền nhanh của hải tặc.
Sau khi Lục Tự Bạch bị vu cáo, nàng lau đi lau lại cán thương, đến cả mu bàn tay bị dằm gỗ đ.â.m chảy m.á.u cũng không nhận ra.
Nàng quay mặt đi, thấp giọng.
“Ta biết.”
“Ta chỉ là tức không chịu nổi.”
Lục Tự Bạch giơ tay lau nước mắt nơi khóe mắt nàng.
“Ta biết nàng đang sốt ruột vì ta.”
“Trong lòng ta đều hiểu.”
Hai người yên lặng một lúc.
Ta đặt tấu chương xuống bàn, chợt nhớ tới một con dấu đồng do chưởng quầy ở đảo cảng đưa cho ta.
Đó là tín vật của thương hành địa phương, bên cạnh dấu còn khắc số hiệu hải thuyền của họ.
Trước khi chúng ta rời cảng, đối phương từng viết một văn thư, nói rõ mẫu hỏa khí dùng để hộ tống, đồng thời ghi rõ số lượng hàng trao đổi và số thuế đã nộp.
Những thứ này đưa lên triều chưa chắc khiến tất cả mọi người im miệng, nhưng ít nhất có thể để Ngự sử thấy rõ hàng từ đâu tới, thuế bạc đi về đâu, cũng khiến lời “cấu kết ngoại thương” không còn căn cứ.
Quan trọng hơn, bách tính kinh thành không biết hải lộ đã mang tới cho họ những gì.
Ta hỏi Lục Tự Bạch: “Đại nhân, mẻ d.ư.ợ.c liệu ở Phúc Châu đã chia gửi đi các nơi chưa?”
“Một nửa vào Thái Y Viện, một nửa đưa đến vùng duyên hải có dịch.”
“Mùa xuân năm nay huyện Dư có dịch bệnh, giá t.h.u.ố.c tăng rất cao.”
“Nếu không có mẻ d.ư.ợ.c liệu ấy, người bình thường không mua nổi.”
Lục Tự Bạch gật đầu.
Ta lại nhớ những phụ nhân học dệt buồm trong xưởng thuyền.
Trên triều có người lấy việc nữ nhân lên thuyền làm cớ công kích Lục Tự Bạch.
Nếu chỉ một mình ta biện giải, nghe thế nào cũng giống chuyện riêng.
Thứ họ khinh thường là cả một nhóm nữ nhân có tay nghề, có sinh kế.
Vậy thì nên để nhiều người hơn đứng ra nói.
Tối ấy, ta viết hơn mười phong thư, lần lượt gửi tới huyện Dư, Phúc Châu và đảo Lộ Môn.
Trong thư, ta không bảo họ kêu oan thay cho ai.