Ta gật đầu: “Được, vậy cùng nhau hướng về phía trước.”
Ta ngẩng đầu nhìn cây cầu nguyện vẫn cao lớn sum suê, cành lá xanh um đón gió.
“Chúng ta lại cầu nguyện thêm một lần nữa đi. Lần này, chỉ vì chính bản thân mình.”
Bóng chiều dần buông xuống.
Sau khi treo xong thẻ cầu nguyện, hai người chúng ta, một kẻ đi về phía đông, một kẻ đi về phía tây.
Ta và Tề Thuật trở thành minh hữu, thật sự là vì tình thế ép buộc.
Mẫu thân đã thay ta vơ vét được một quyển danh sách dài, trong đó liệt kê mấy chục nhân tuyển.
Đấy là còn chưa kể bà đã gạch bỏ trước những kẻ chỉ nhìn mặt thôi cũng thấy không vừa mắt.
Tuy phụ mẫu đã sai người điều tra qua loa, nhưng đám công t.ử nhà giàu trong kinh thành, khi ra ngoài có ai lại không giả vờ khoác lên mình dáng vẻ nhân mô cẩu dạng.
Huống hồ kiếp trước, ta và Tề Thuật đã bỏ trốn tận đến Giang Nam, rời xa vòng tròn thế gia trong kinh.
Sau này đám người ấy cưới xin thành thân rồi sống ra sao, rốt cuộc là người hay quỷ, ta đều chẳng biết rõ.
Ta và Tề Thuật đã sống lại một đời, đối với hôn nhân đại sự, đương nhiên càng phải cẩn trọng hơn trước.
Trên đời này, ngoại trừ bản thân mình, người hiểu rõ nhất những nhu cầu sau khi thành thân của ta, lại chính là đối phương.
Vì vậy, hai chúng ta quyết định trao đổi danh sách, giúp nhau nghe ngóng, thăm dò tin tức.
Ta bắt đầu tích cực tham gia các buổi tiệc thưởng hoa, phẩm hương do các phu nhân và khuê nữ trong các phủ tổ chức.
Phía Tề Thuật cũng ngày ngày đi đ.á.n.h mã cầu, du hồ lướt thuyền, tham gia thi hội, bận rộn chẳng kém gì ta.
Sau một thời gian dài tất bật, hai chúng ta mới lén lút gặp nhau ở trà lâu Vân Khê.
Chúng ta ngồi quay lưng với nhau, cách một tấm bình phong, mỗi người tự cầm chén trà của mình.
“Công t.ử nhà Trần thị lang, ta đã gạch giúp nàng rồi. Tên đó cực kỳ thích ăn tỏi, còn nàng thì ghét nhất cái mùi ấy, e rằng nàng với hắn khó mà thân cận được.”
“Nhị cô nương nhà họ Chu, ta cũng gạch giúp chàng rồi. Cô nương ấy bữa nào cũng phải ăn rau mùi, mà chàng chỉ cần đụng vào một chút là nổi mẩn đỏ, chuyện này cũng không thân mật nổi đâu.”
“Đỗ tu soạn cũng không ổn. Hễ mở miệng là chi hồ giả dã, lại thích giảng đạo lý dài dòng. Nàng ghét nhất loại người như thế.”
“Thiên kim của Tần thái phó thì bụng đầy kinh luân, thông kim bác cổ. Cái trình độ học vấn nửa vời của chàng mà đứng trước mặt người ta, e là chẳng đủ xách dép, chàng không xứng với người ta đâu.”
Sau lưng bỗng vang lên một tiếng “bốp”, khiến ta giật nảy mình.
Hóa ra là Tề Thuật đặt mạnh chén trà xuống bàn để tỏ ý bất mãn.
“Chàng tức cái gì? Chẳng lẽ tự mình học hành đến đâu mà chàng còn không rõ sao? Ở chung vài ngày là cái đuôi dốt nát của chàng lộ ra ngay thôi.”
Ta nghe thấy Tề Thuật lạnh lùng hừ một tiếng.
“Vậy nàng cũng đừng mơ đến thế t.ử Nam Bình hầu nữa. Hầu phủ người ta không chứa nổi một vị thế t.ử phu nhân ngủ nướng đến tận lúc mặt trời lên cao ba con sào đâu.”
Ta cũng chẳng chịu yếu thế.
“Phò mã gì đó, chàng cũng đừng ảo tưởng nữa. Trên người chàng chẳng có tài cán gì, lại còn không hiểu phong tình. Ta sợ công chúa sẽ cảm thấy đưa chàng ra ngoài rất mất mặt.”
Uống hết ba ấm trà, cãi nhau ròng rã cả một buổi chiều, cuối cùng danh sách của mỗi người chỉ còn lại chưa đến mười cái tên.
Trên xe ngựa trở về phủ, Tước Nhi dè dặt hỏi ta: “Tiểu thư, vừa rồi nô tỳ hình như nhìn thấy xe ngựa của Tề tam công t.ử.”
“Tiểu thư, người sẽ không nối lại tình xưa với ngài ấy đấy chứ? Chuyện đó tuyệt đối không được đâu.”
“Nếu lão gia biết thì sẽ không tha cho tiểu thư đâu. Tiểu thư ngàn vạn lần đừng…”
Ta nhét một miếng bánh ngọt vào cái miệng đang lải nhải không ngừng của Tước Nhi.
“Ngươi cứ yên tâm, ta và Tề Thuật đã không thể nào nữa rồi. Nhưng bọn ta cũng sẽ không biến thành kẻ thù. Vòng tròn trong kinh thành nhỏ như vậy, kiểu gì cũng có lúc chạm mặt nhau.”
“Chẳng lẽ tiểu thư nhà ngươi ngày nào ra đường cũng phải đi đường vòng để tránh hắn sao?”
Phu thê có thể là người thân thiết nhất trên đời, cũng có thể trở thành người xa lạ nhất.
Ta và Tề Thuật lo lắng cho nhau, cũng thật lòng mong đối phương sống tốt.
Nhưng chúng ta đã không thể thân mật lại như xưa nữa, điều này từ kiếp trước đã sớm định rồi.
Thứ tình cảm từng khắc cốt ghi tâm, từng sống c.h.ế.t có nhau thuở ban đầu, sau khi bị năm tháng mài mòn đến kiệt cùng, cuối cùng chỉ còn lại chút tình nghĩa từng bầu bạn và sưởi ấm cho nhau giữa nhân gian lạnh lẽo.
Đêm ấy, hiếm hoi lắm ta mới nằm mộng.
Ta mơ thấy ngày c.h.ế.t ở kiếp trước.
Khi độc phát tác, ta ngã gục vào lòng Tề Thuật.
Dường như trước khi hắn tắt thở, ta nghe hắn thều thào bên tai: “Thuốc độc ấy không phải hạ cho một mình nàng, mà là dành cho cả hai chúng ta…”
Mùa đông năm ấy thật sự quá đỗi khắc nghiệt, là một mùa đông giá rét hiếm gặp trong nhiều năm.
Sau khi sinh Sanh Nhi, ta không được ở cữ cho đàng hoàng.
Hai năm gần đây, lại phải ngày ngày ra ngoài trời lạnh giặt giũ thuê cho người ta, thân thể đã hao mòn từ lâu, càng ngày càng sợ lạnh.
Chúng ta chẳng có tiền mua thêm than, chỉ có thể từ sớm chắt mót nhặt nhạnh cành khô và phân ngựa.
Nhưng từng ấy thứ, đặt trước một mùa đông buốt giá như vậy, cũng chẳng khác gì muối bỏ bể.
Rau dại và nấm khô mà thím hàng xóm từng dạy ta phơi từ sớm, cũng sắp ăn cạn đến nơi.
Tề Thuật tuy đã sa sút, nhưng tướng mạo vẫn khôi ngô hơn người.
Vị Triệu tiểu thư kia đã bóng gió xa gần không biết bao nhiêu lần, muốn hắn vào phủ làm rể, nhưng hắn chưa từng nhận lời.