Người vén rèm xe lên, nói với tiểu tư đang đứng chờ bên ngoài:
“Về bẩm lại với lão gia nhà ngươi, không cần khuyên ta nữa. Ta biết lúc này chỉ cần chịu cúi đầu, để nó giúp ta xoay xở thêm một phen, ta vẫn có thể ở lại kinh thành. Nhưng tất cả đều không cần nữa.”
Cứ như vậy.
Ta theo tổ phụ một đường tới Nam Châu.
Ta ở bên cạnh tổ phụ suốt sáu năm.
Theo người bước thấp bước cao giẫm qua những con đường bùn lầy, xuống thôn quê tuần tra ruộng lúa.
Ta tận mắt nhìn thấy chân những người nông dân bị đỉa bám hút m.á.u, nhưng vẫn phải nhịn đau tiếp tục làm ruộng.
Một t.h.a.i p.h.ụ bụng lớn bên đường bỗng trở dạ ngay giữa ruộng đồng.
Mọi người vội vây quanh, dùng thân mình dựng thành một bức tường che chắn.
Chẳng bao lâu sau, tiếng khóc vang dội của một đứa trẻ x.é to.ạc bầu trời.
Còn ta thì nắm c.h.ặ.t t.a.y tổ phụ, chẳng biết từ lúc nào lòng bàn tay đã đẫm mồ hôi.
Nghe được tiếng khóc ấy, ta mới thở phào một hơi thật dài.
Nhưng đến khi chúng ta chuẩn bị rời đi, lại nghe thấy tiếng khóc của người mẹ.
Đứa trẻ ấy không sống được.
Ta đứng c.h.ế.t lặng trên bờ ruộng thật lâu, mãi vẫn chưa hoàn hồn.
Tổ phụ ngồi xổm xuống, hai tay đặt lên vai ta, nhìn thẳng vào mắt ta rồi nói:
“Sinh mệnh vừa kiên cường, lại vừa mong manh. Tri An, chúng ta phải học cách chấp nhận sự vô thường của sinh mệnh, càng phải trân trọng tất cả những gì đang có trước mắt.”
Ta nghẹn ngào nói: “Tổ phụ, con nhớ rồi.”
Ta tiếp tục theo tổ phụ đi tuần tra.
Người bận rộn làm việc, bảo ta ngồi sang một bên ăn điểm tâm.
Ta suy nghĩ thật lâu, rồi nhờ Lương chủ bạ dẫn mình đi gặp người nông phụ vừa mất con kia.
Ta siết c.h.ặ.t túi bạc trong tay.
Nhưng khi đến gần.
Ta lại thấy nỗi đau trên gương mặt đôi phu thê ấy đã không còn tràn ngập như trước.
Chỉ còn lại chút mỏi mệt.
Mới ngắn ngủi nửa ngày, dường như họ đã bước ra khỏi nỗi đau mất con.
Hai người nhìn ruộng lúa, bàn bạc với nhau.
“Năm nay được mùa. Thật tốt.”
Người nông phụ lại nói: “Đúng là một năm may mắn.”
Người nông phu hái một quả bên bờ ruộng đưa cho thê t.ử: “Vậy hôm nay chúng ta về nghỉ sớm một chút đi.”
Hai người ngồi lên xe bò, chậm rãi rời đi.
Ta đứng giữa cánh đồng khi hoàng hôn sắp buông xuống.
Gió nóng ẩm bao quanh lấy ta.
Năm ấy, ta vừa tròn mười tuổi.
Vốn vẫn luôn nhớ tới đứa trẻ c.h.ế.t yểu kia, trong lòng ta vô cùng khó chịu.
Nhưng khi nhìn thấy bọn họ, dường như ta lại không còn đau lòng đến thế nữa.
Mãi đến khi Lương chủ bạ im lặng đưa khăn cho ta, ta mới nhận ra mình đã khóc rất nhiều.
Ông hiền từ nói: “An cô nương là người mềm lòng. Đôi phu thê ấy còn phải nuôi sáu đứa con khác, không phải bọn họ không đau lòng. Chỉ là bọn họ không có tư cách để mặc cho bản thân chìm đắm trong đau buồn.”
Đã tới Nam Châu nhiều năm, ai nấy đều gọi ta một tiếng An cô nương.
Không phải Phùng nhị tiểu thư.
Bọn họ vì tổ phụ mà kính trọng ta, đối xử tốt với ta.
Thê t.ử của Lương chủ bạ luôn để ý xem ta thích ăn gì, thường xuyên nấu cho ta những bữa cơm nóng hổi.
Lương đại ca và Lương Nhị Hắc, một tay dắt Lương tiểu muội, một tay kéo ta.
Bốn chúng ta cùng nhau lớn lên.
Khiến ta ở nơi đất khách này, dần dần bén rễ.
Lời của Lương chủ bạ cũng để lại một dấu ấn trong lòng ta.
Hóa ra trên đời này còn có những người chẳng có thời gian để đau buồn.
Trở về nhà.
Ta nói với tổ phụ: “Tổ phụ, con muốn làm một chút gì đó cho Nam Châu.”
Tổ phụ suy nghĩ một lát, rồi lấy ra một chiếc hộp, bên trong có hai vạn lượng ngân phiếu.
Người nói: “Đây là của hồi môn ta chuẩn bị cho con. Muốn làm việc thì trước hết phải có bạc.”
Trước kia tổ phụ là Hộ bộ Thượng thư, rất thông hiểu chuyện kinh thương.
Người chỉ dạy ta, Lương đại ca và Lương Nhị Hắc cách buôn bán, cũng dạy chúng ta phải đấu trí với người của quan phủ thế nào.
Ban đầu chúng ta chỉ làm ăn nhỏ, lấy một trăm lượng bạc ra thử sức.
Về sau, thương hành Tri An càng làm càng lớn.
Chúng ta cùng nhau xây dựng Từ Ấu đường.
Quy củ đầu tiên ta đặt ra chính là: phụ nhân trước khi sinh một tháng có thể tới Từ Ấu đường ở, nơi đây lo cơm ăn chỗ ở, còn phát thêm bạc.
Ta đứng bên ngoài phòng sinh của Từ Ấu đường.
Nghe hết tiếng khóc vang dội này đến tiếng khóc vang dội khác của những đứa trẻ vừa chào đời.
Ta lại trốn vào một góc khóc thật lâu.
Ngày hôm ấy còn có một tin vui khác.
Vụ án năm xưa khiến tổ phụ bị liên lụy cuối cùng đã được lật lại.
Hoàng thượng khai ân, ban thánh chỉ cho tổ phụ trở về kinh thành, tiếp tục trọng dụng.
Nhưng tổ phụ không trở về.
Người nhìn những dãy núi Nam Châu nối dài không thấy điểm cuối, nói:
“Những quan viên năm đó cùng bị biếm với ta, có người nhờ quan hệ mà ở lại kinh thành. Những năm qua tin tức lần lượt truyền tới, chẳng một ai có kết cục tốt đẹp. Hoàng thượng vừa đăng cơ đã châm lên ngọn lửa ấy, chính là để thử thách đám lão thần chúng ta. Nếu năm đó không có những lời của con, e rằng ta cũng chẳng thể nhìn thấu được những danh lợi hư vọng ấy, sớm đã bị ngọn lửa kia thiêu thành tro rồi.”
Cuối cùng, tổ phụ được an táng tại Nam Châu.
Người từng nói, nơi nào lòng ta an yên, nơi ấy chính là nhà, không cần phải trở về Thanh Châu nữa.
Mà giờ đây, ta cũng đã trở lại Nam Châu.
Lại một năm Thanh minh.
Ta đứng trước phần mộ tổ phụ thắp hương cho người.
Bỗng nghe phía sau có người gọi ta: “Mẹ! Về nhà thôi! Cha nấu cơm xong rồi. Là mì tương thịt mà mẹ thích ăn nhất đó!”
Ta quay đầu nhìn lại.
Tiểu cô nương nhà ta b.úi hai b.úi tóc nhỏ, đang đứng vẫy tay với ta.
Con bé chạy tới nắm lấy tay ta, nói: “Nhà chúng ta có khách tới, là một vị phu nhân rất xinh đẹp nhưng trông tiều tụy lắm. Mẹ có quen không?”
Hoàn.