Ban đầu đích mẫu dĩ nhiên không vui, nhưng về sau người chẳng hề so đo với di nương nữa.
Bởi di nương chỉ làm mình làm mẩy với phụ thân ta.
Trước mặt đích mẫu, bà ngoan ngoãn vô cùng, ngày nào cũng khoe tài nấu nướng khéo léo của mình.
Việc nào được giao, bà lập tức làm ngay; còn gặp việc không muốn đụng tay, bà liền giơ cao cả hai tay: “Thiếp có biết làm thứ này đâu!”
“Tỷ tỷ mau cứu thiếp, việc này không thể làm được, làm là thiếp mất mạng đấy!”
Nhưng hễ về phòng đóng cửa, chỉ cần thấy mình chịu ấm ức, bà có thể làm loạn đến mức phụ thân phải liên tục xin tha.
Trước mặt bà, phụ thân chẳng có chút tính khí nào, chỉ cần nếm trái đắng một lần là không dám tái phạm.
Mỗi lần nhắc đến di nương, ngoài miệng đích mẫu bảo đau đầu, trên mặt lại không nhịn được cười, chỉ nói Vân Nương thật thú vị, đúng là một người kỳ diệu.
Di nương sống trong phủ mười năm, với bề trên thì cung kính, với hạ nhân thì hòa nhã, ngay cả tổ mẫu khó tính nhất cũng được bà chăm sóc đến vừa lòng đẹp dạ.
Đáng tiếc, năm ta chín tuổi, bà lâm bệnh nặng, không thể xuống giường.
Trước lúc lâm chung, bà gọi ta đến ngồi bên giường: “Châu Châu, con có từng nghĩ vì sao ta chỉ dám bắt nạt cha con, còn với người khác lại luôn khách khí hay không?”
Ta sụt sịt đáp: “Vì di nương không thích cha ạ?”
“Không phải.”
“Vậy là vì sao?”
Di nương xoa đầu ta, nói: “Ta và cha con cùng nhau lớn lên từ nhỏ, biết dù ta khóc trước mặt ông ấy hay nổi giận với ông ấy, ông ấy cũng không bỏ rơi ta.”
“Nhưng nếu ta làm loạn với tất cả mọi người trong nhà, cha con bị kẹt ở giữa cũng sẽ khổ sở.”
“Huống chi người khác đâu bao dung ta như ông ấy.”
“Nếu ta thật sự đắc tội với người ta quá mức, cuối cùng người chịu khổ vẫn là chính mình…”
Bà thở lấy hơi rồi dặn thêm: “Châu Châu, con phải nhớ, nam nhân nào khiến con yên tâm làm mình làm mẩy, yên tâm khóc lóc, người đó mới thật lòng bao dung và yêu thương con.”
“Còn kẻ chỉ vì con giận dỗi chút đỉnh đã lạnh mặt bỏ đi, con không thể phó thác cả đời cho hạng nam nhân ấy…”
Giọng bà mỗi lúc một nhỏ: “Còn nữa, sau khi con làm loạn xong, nhất định phải dỗ… phải dỗ… Nhớ đấy… phải…”
Ta gục bên giường, khóc đến không thở nổi: “Di nương, con nhớ hết rồi.”
Thật ra ta đã nghe sót nửa câu quan trọng nhất.
Di nương muốn nói với ta rằng làm loạn xong còn phải dỗ người ta cho nguôi, hơn nữa phải dỗ sao cho đúng cách.
Nhưng hơi thở bà tắt quá nhanh, ta chỉ nhớ phần đầu mà chẳng kịp nghe phần sau.
Từ đó, ta cũng học được cách lựa người mà giở tính giở nết.
Với đích mẫu, ta luôn giữ đúng phép tắc.
Những món ăn di nương dạy, ta không hề giấu nghề; lúc đích mẫu đau ốm, ta túc trực bên giường, bưng nước dâng t/h/u/ố/c.
Mỗi lần phụ thân tan chầu, ta lại đem đến cho ông một bát canh nóng, đến giày tất thay mùa cũng chuẩn bị đầy đủ.
Ngay cả người khó tính như tổ mẫu cũng thường xoa đầu khen ta: “Đứa trẻ này thật đáng yêu, ngoan ngoãn hệt di nương nó.”
“Mai sau nhất định phải chọn cho nó một mối hôn sự tốt.”
Nhưng đến đêm, ta vẫn thấy cô đơn.
Ta thường thì thầm than thở với những món đồ di nương để lại, tại sao mình chẳng tìm được ai có thể t/ùy ý nổi giận trước mặt người ấy?
Sau này, biểu ca của đích tỷ là Bùi Tự tới phủ chúng ta ở tạm.
Ta cũng gọi chàng ấy là biểu ca như đích tỷ.
Chàng ấy có dáng vẻ tuấn tú, cười lên rất hiền hòa, chỉ nhìn thôi cũng khiến người ta an lòng.
Chàng ấy dường như cũng đối xử với ta không tệ.
Bùi Tự vốn tính thanh cao, lại rất giống đích tỷ, hai người ở cạnh nhau ngược lại chẳng có gì để nói.
Nhưng trước mặt ta, chàng ấy lại chuyện trò không ngớt, từ chuyện mới trong triều đến chuyện thú vị nơi đồng ruộng, chuyện gì cũng có thể kể một hồi.
Về sau, chàng ấy cùng huynh trưởng vào thư viện, mỗi dịp nghỉ học về phủ đều mang quà cho hai tỷ muội chúng ta.
Hai phần quà trông y hệt nhau, nhưng toàn là món đích tỷ thích ăn.
Đích tỷ thích vị thanh đạm, còn ta mê bánh ngọt đậm vị sữa, ngọt đậm đà, nhưng thứ chàng ấy mang về luôn là đậu phụ hạnh nhân, bánh mai anh, thanh mai ngào đường và những món tương tự.
Rõ ràng cũng được chia một phần, lòng ta vẫn hơi khó chịu.
Ta đã có cảm tình với chàng ấy, nhưng cách chàng ấy đối đãi với ta hình như chẳng khác gì người khác.
Đêm đến, ta lại lén hỏi di nương: “Rốt cuộc người có thể để mặc con làm mình làm mẩy đang ở đâu vậy…”
Nếu còn không tìm được, e rằng ngay cả tính khí ta cũng phải nén cho mất sạch.
Nghĩ mãi nghĩ mãi, ta rơi nước mắt, bỗng thấy trước mặt có một chiếc khăn tay sạch sẽ đưa đến.
Bùi Tự cúi người, lo lắng nhìn ta: “Sao Châu Châu muội muội lại khóc?”
“Có phải bánh điểm tâm hôm nay không hợp khẩu vị?”
Ta đỏ hoe mắt lắc đầu, Xuân Hạnh lại nhỏ giọng bên cạnh: “Tiểu thư nhà chúng nô tỳ thích đồ ngọt, tốt nhất còn có vị sữa.”
“Những món như bánh sữa, bánh hoa hồng, bánh cuộn hạt thông mỡ ngỗng, tiểu thư đều thích…”
Ta vội quở nàng: “Không được nói nữa.”
Trái lại, Bùi Tự nghiêm túc chắp tay vái: “Trước đây là ta không để tâm, khiến Châu Châu muội muội chịu ấm ức.”
“Sau này ta sẽ không nhầm nữa.”
Từ đó, lần nào chàng ấy cũng mang về hai loại điểm tâm.
Ta từng khuyên chàng ấy không cần phiền phức, dù sao chàng ấy là biểu ca ruột bên ngoại của đích tỷ, còn với ta vẫn cách một tầng quan hệ.
Nhưng chàng ấy cư xử rất chu đáo, lần nào cũng để đích tỷ chọn trước, phần còn lại mới đưa cho ta.
Vừa khéo khẩu vị hai tỷ muội khác nhau, chẳng ai cần nhường ai.
Huynh trưởng biết chuyện, tiện tay cũng mang về hai loại.
Hôm ấy, nhìn đống bánh điểm tâm trong phòng, ta cười đến chẳng còn chút hình tượng.
Nếu không được Xuân Hạnh kịp thời giữ lại, ta đã lăn hai vòng trên giường rồi.
Cũng từ hôm ấy, ta bắt đầu từng chút một bộc lộ tính khí xấu của mình trước mặt Bùi Tự.