Ta xắn tay áo, lau lớp bụi trên mặt bàn.
“Ít nhất ở đến khi Tạ gia không còn chờ ta nữa.”
Vành mắt Thanh Trúc đỏ lên: “Trước đây nô tỳ luôn cảm thấy Đại cô nương đối xử với cô nương rất tốt. Nhưng mấy ngày nay nhìn lại, trong lòng nô tỳ cứ thấy nghẹn.”
Ta nhìn nàng ấy: “Nếu thấy nghẹn thì nhớ kỹ. Sau này đừng thay người khác khuyên ta nữa.”
Nàng ấy dùng sức gật đầu.
Cuộc sống trên núi giản dị thanh đạm.
Trời còn chưa sáng, ta đã theo người trong đạo quán gánh nước, phơi t.h.u.ố.c, chép kinh.
Ngón tay bị nước t.h.u.ố.c nhuộm vàng, vai lưng mỏi đến mức ban đêm trở mình cũng đau.
Nhưng mỗi ngày ta đều ngủ yên hơn kiếp trước ở Tạ gia.
Tạ gia rất nhanh gửi đến lá thư đầu tiên.
Không phải thư của Tạ Lâm Tự, mà là của Tạ phu nhân.
Trong thư nói ta hiếu thảo đáng quý, Tạ gia nguyện chờ. Đợi ta dưỡng khỏe thân thể rồi sẽ chọn ngày lành.
Đọc xong, ta đặt thư dưới quyển kinh.
Bảy ngày sau, lá thư thứ hai đến.
Là của Thẩm Tri Nhu.
Tỷ ấy nói hôn kỳ đã định vào mùng sáu tháng năm. Tạ nhị công t.ử đích thân đến Thẩm gia đưa một hộp trân châu, ai cũng khen tỷ ấy có phúc.
Cuối thư còn thêm một câu: A Hành, nếu muội ở đây thì tốt biết mấy.
Ta gấp thư lại, đặt vào trong hộp.
Đạo cô Huyền Từ liếc nhìn: “Không hồi âm à?”
“Không.”
“Trong lòng không khó chịu sao?”
Ta trải d.ư.ợ.c thảo lên nia tre, đầu ngón tay gỡ từng rễ cây quấn vào nhau.
“Đã khó chịu đủ rồi.”
Bà bật cười: “Tuổi còn nhỏ mà đã biết giả bộ như người già rồi.”
Ta không tranh luận.
Ngày mùng sáu tháng năm, tiếng chiêng trống dưới núi mơ hồ vọng lên.
Ta đứng trên đài phơi t.h.u.ố.c phía sau đạo quán, nhìn về hướng kinh thành.
Kiếp trước, ngày này ta và Thẩm Tri Nhu cùng xuất giá.
Mưa hôm ấy lớn hơn hôm nay, gió cuốn bay một góc khăn voan, ta nghe bà mối hô nhầm kiệu.
Đời này trời sáng trong, gió chỉ cuốn theo vị đắng của d.ư.ợ.c thảo.
Thanh Trúc chạy lên: “Cô nương, dưới núi có người đưa bánh hỷ đến, là Xuân Đào bên cạnh Đại cô nương.”
Xuân Đào bước vào, trâm châu trên đầu lay động đến mức khiến mắt người ta đau.
Nàng ta đặt hộp thức ăn xuống, hành lễ qua loa.
“Nhị cô nương, hôm nay Đại cô nương đại hỷ, đặc biệt sai nô tỳ đưa bánh hỷ đến. Đại cô nương còn nói, trên dưới Tạ gia đều mong Nhị cô nương sớm dưỡng khỏe thân thể.”
Ta mở hộp thức ăn.
Bánh hỷ bọc giấy đỏ vẫn còn hơi ấm, hương ngọt tỏa ra, lấn át mùi t.h.u.ố.c.
Ta cầm một chiếc lên, bẻ đôi. Bên trong là nhân hạt sen.
Kiếp trước ta đói đến nửa đêm trong tân phòng Tạ gia, trên bàn cũng bày loại bánh này.
Tạ Lâm Tự bước vào, nhìn thấy ta, chỉ hơi nhíu mày.
Hắn nói: “Nếu đã thành lễ, sau này hãy giữ tốt bổn phận.”
Đêm ấy, nến hỷ cháy đến sáng, hắn ngồi ở gian ngoài đọc sách suốt đêm.
Ta đặt bánh hỷ trở lại.
“Đa tạ tỷ tỷ.”
Xuân Đào vẫn chưa đi, ngược lại còn cười nói: “Đại cô nương nói hôm nay Tạ đại công t.ử cũng ở trong tiệc, có hỏi thăm sức khỏe Nhị cô nương. Tạ gia chưa quên Nhị cô nương đâu.”
Sắc mặt Thanh Trúc sa sầm xuống.
Ta ngẩng đầu: “Tạ đại công t.ử hỏi gì?”
Xuân Đào đắc ý: “Hỏi Nhị cô nương ở trên núi có quen không.”
Ta gật đầu: “Ngươi về nói với tỷ tỷ, ta ở đây rất quen, còn quen hơn ở Thẩm phủ.”
Nụ cười trên mặt Xuân Đào không giữ nổi.
Ta lại nói: “Cũng nói với tỷ ấy, tân nương nhập môn ba ngày đầu phải nhận thân kính trà. Tạ gia có nhiều tộc thân, đừng khóc nhầm bối phận.”
Mặt Xuân Đào đỏ lên: “Nhị cô nương nói vậy thật khó nghe.”
Ta nhìn nàng ta: “Vậy thì đừng nghe.”
Nàng ta xách hộp thức ăn rỗng rời đi, bước chân nặng nề đến mức gần như giẫm mạnh xuống đất.
Thanh Trúc không nhịn được cười: “Cô nương, vừa rồi thật hả giận.”
Ta cúi đầu tiếp tục phơi t.h.u.ố.c.
Hả giận thì chưa đến mức.
Chỉ là ta biết cửa ải tộc thân Tạ gia kia, Thẩm Tri Nhu không vượt qua nổi.
Kiếp trước, chính ta đã thay tỷ ấy vượt qua.
Tỷ ấy không nhớ tên người, cũng không phân biệt được thân sơ. Ta đã sớm vẽ gia phả, ghi sở thích, ngay cả vị thẩm nương nào kiêng kỵ người con đã mất cũng chú thích bên cạnh.
Đời này, không còn ai viết thay tỷ ấy nữa.
Quả nhiên đến ngày thứ ba, tin tức từ dưới núi truyền lên.
Thẩm Tri Nhu lúc kính trà đã gọi nhầm người, gọi Tam lão thái thái Tạ gia thành Nhị thẩm. Cả bàn im phăng phắc.
Tam lão thái thái Tạ gia ngay tại chỗ đập vỡ chén trà.
Tạ phu nhân mất sạch thể diện, Tạ Minh Hành say đến mức chưa tỉnh, cuối cùng vẫn là Tạ Lâm Tự đứng ra giảng hòa.
Thanh Trúc nghe xong cau mày: “Đại cô nương e là sẽ khóc c.h.ế.t mất.”
Ta dùng d.a.o nhỏ cắt rễ t.h.u.ố.c, nước vàng trắng thấm ra đầu ngón tay.
“Khóc không c.h.ế.t người.”
Thứ có thể khiến người ta c.h.ế.t dần, chính là ngày qua ngày thay người khác thu dọn tàn cuộc.
6.
Lần đầu tiên Thẩm Tri Nhu lên núi tìm ta là ngày thứ mười sau khi thành thân.
Tỷ ấy mặc áo váy màu hải đường đỏ, vòng vàng trên cổ tay nặng đến mức kéo trĩu tay áo. Nhưng gương mặt đã gầy đi một vòng so với lúc còn ở khuê phòng.
Vừa bước vào, tỷ ấy đã cho Xuân Đào lui ra rồi nhào đến nắm tay ta.
“A Hành, muội về cùng tỷ đi.”
Ta đang giã t.h.u.ố.c, mùi đắng từ cối đá xộc lên cay nồng.
“Về đâu?”
“Tạ gia.”
Ta dừng tay.
Tỷ ấy vội vàng nói: “Muội đừng nhìn tỷ như vậy. Tạ gia không phải không tốt, chỉ là gia quy quá nhiều, nhất thời tỷ không nhớ hết. Bà mẫu nói tỷ không chững chạc, Tam lão thái thái cũng không chịu gặp tỷ, Minh Hành… chàng ấy đêm qua lại ngủ bên ngoài. A Hành, một mình tỷ không chống đỡ nổi.”