Chương một: Nhật ký thứ nhất
Ngày 10 tháng 5 năm Tân Lịch 23, Nguy hiểm
Khi tôi gặp anh ấy, trung tâm nghiên cứu vừa mới đăng trên tờ báo có uy tín nhất toàn thành phố rằng virus Pandora không thể lây nhiễm loài thực vật có khả năng quang hợp ngoài hoang dã.
Tờ báo vừa phát hành đã gây nên một làn sóng lớn. Nhiều nhà khoa học nảy sinh ý tưởng tạo ra lục lạp nhân tạo, hoặc đưa cơ chế hoạt động của lục lạp vào cơ thể người thông qua chỉnh sửa gen.
Tôi cũng từng kỳ vọng vào hướng nghiên cứu này. Nhưng tôi không cho rằng khả năng kháng virus của thực vật chỉ bắt nguồn từ lục lạp, dù phần lớn mọi người khi nhắc đến thực vật quang hợp đều nghĩ ngay đến lục lạp.
Thế là tôi cũng trở thành một trong số những người lao vào nghiên cứu hướng này. Nói cho cùng, tôi vốn chẳng phải một nhà nghiên cứu lão luyện.
Học vấn của tôi không bằng những giáo sư già kia, trong tay chỉ còn một tấm bằng tốt nghiệp chẳng mấy giá trị. Sự nghiệp nghiên cứu chính thức của tôi đã kết thúc từ khi bị người ta kéo ra khỏi phòng thí nghiệm từng phơi nhiễm virus. Nhưng lòng dũng cảm của tôi chắc chắn thuộc hàng đầu trong số các nhà khoa học này. Tôi dự định ra ngoài hoang dã tìm mẫu vật để chứng minh những quan điểm ấy.
Trăm nghe không bằng một thấy, trăm thấy cũng không bằng tự tay thử một lần. Tôi mang theo tâm trạng ấy, vui vẻ thu xếp hành lý, chuẩn bị lên đường ra hoang dã.
Tôi nộp đơn xin phép tại trạm kiểm tra cổng thành. Cấp trên của tôi từng là quân nhân. Thời trẻ, anh ấy nhiều lần theo quân đội ra ngoài hoang dã, trận nào cũng xông lên tuyến đầu. Những người cùng lứa lần lượt thăng chức, chỉ mình anh ấy vì thương tích mà phải rời quân ngũ.
Anh ấy nói với mọi người rằng mình đã lập đủ công, đến lúc lui về. Ban đầu tôi cũng nghĩ vậy, cho đến một lần tăng ca, tôi thấy anh ấy say khướt làm loạn, nói rằng mình rõ ràng có tài mà không gặp thời, chỉ là bất đắc dĩ mà thôi.
Sau đó tôi bắt đầu hiểu anh ấy. Tôi thường nghiêm túc nghe anh ấy kể chuyện đời mình, không tiếc lời khen ngợi sự dũng cảm của anh ấy.
Nên với tư cách là một trong số ít người lắng nghe anh ấy, khi biết tôi muốn ra ngoài thành thu thập mẫu vật, anh ấy không đồng ý.
"Ngọc Khiết, tôi không đồng ý. Cậu đến chút kinh nghiệm thực chiến cũng không có, ra hoang dã chẳng phải là nộp mạng sao?"
Nhưng lúc đó trong lòng tôi toàn là mẫu vật, toàn là kháng thể của virus Pandora. Tôi không chút do dự phản bác lại: "Tôi đâu phải đi đối đầu trực diện với quái vật. Tôi chỉ đi nhổ ít cỏ, hái ít hạt. Ngoài kia thực vật xanh nhiều như vậy, căn bản sẽ không có chuyện gì."
Anh ấy vẫn không chịu. Tôi nghĩ anh ấy vì nhớ đến thương tích của mình, cảm thấy anh ấy bị tâm ma của chính mình trói buộc, lùi bước, sợ hãi.
Nhưng tôi không có tâm ma như vậy. Tôi cãi lý đến cùng, cuối cùng ném ra một mệnh đề khiến anh ấy không thể tránh né: "Tôi cũng không muốn chỉ lãng phí thời gian của mình vào việc kiểm tra cổng thành. Tôi có năng lực, có kiến thức, cũng có kinh nghiệm nghiên cứu. Tôi cũng muốn đi làm nghiên cứu."
Có lẽ vì từng trải qua cảm giác có năng lực mà không có cơ hội thi triển, anh ấy cuối cùng cũng mềm lòng. Sau khi tôi mè nheo dai dẳng, anh ấy rốt cuộc vẫn đồng ý.
Anh ấy giới thiệu cho tôi một lính đ.á.n.h thuê rất lợi hại, nói có thể bảo vệ an toàn cho tôi, giá cả cũng không cao.
Tuy tôi không hiểu lắm về tình hình cụ thể của lính đ.á.n.h thuê trên thị trường, nhưng tôi biết mình chưa từng nghe nói đến, cũng chưa từng gặp người đó.
Nhưng kinh nghiệm thực chiến của cấp trên chắc chắn rất phong phú. Anh ấy có tính toán riêng của mình, nên tôi vui vẻ chấp nhận.
Khi tôi ra khỏi thành, anh ấy còn đưa cho tôi bộ sưu tập của mình, đủ loại s.ú.n.g. Tôi nhẹ nhàng lên đường, chỉ mang theo ba khẩu s.ú.n.g lục, vài hộp băng đạn.
Ra khỏi thành, cuối cùng tôi vẫn quay đầu nhìn anh ấy một lần. Anh ấy vẫy tay với tôi, nhưng mắt anh ấy có chút ánh sáng, như mặt hồ ban đêm dưới ánh trăng lấp lánh. Tôi đi xa, lại quay đầu. Lần này trong mắt anh ấy chỉ còn nước hồ, tôi không thấy được thứ ánh trăng ấy nữa. Trong lòng tôi thắt lại một cái, không hiểu sao, tôi có chút sợ hãi vô cớ.
Thật ra chuyến đi tìm mẫu vật lần này vẫn khá thuận lợi. Vì phải hái lượm, cuối cùng tôi vẫn mang theo bộ đồ bảo hộ dày nặng của mình. Nó thật sự quá nặng, đến mức phần lớn v.ũ k.h.í chỉ có thể do người lính đ.á.n.h thuê kia cầm.
Khi hái lượm nghỉ ngơi, chúng tôi sẽ tìm một nơi an toàn để nghỉ. Chúng tôi sẽ trò chuyện. Tôi hỏi anh ấy tên gì, anh ấy nói anh ấy không biết, mọi người đều gọi anh ấy là Xà Tử. Tôi thắc mắc nói sao lại có người đặt tên như vậy.
Anh ấy cười với tôi một cái, không phản bác, nhưng cũng không đồng ý. Anh ấy luôn như vậy, không vui không buồn. Đôi lúc tôi cảm thấy trên đời chẳng có gì đủ sức khiến anh ấy hứng thú; nhưng đôi khi lại có cảm giác ngược lại — dường như anh ấy hứng thú với tất cả, chỉ là chưa bao giờ biểu lộ ra ngoài.
Tôi không muốn gọi cái tên đó. Tôi thấy cái tên như vậy không tôn trọng người ta, nên tôi tự ý gọi anh ấy là T.ử Dạ. Hôm chúng tôi gặp nhau đã gần nửa đêm, vì thế tôi chọn cái tên ấy.
T.ử Dạ vẫn như vậy, không đồng ý cũng không phản bác. Tôi thuận nước đẩy thuyền gọi anh ấy như thế.
Có một lần tôi nảy ra ý tưởng bất chợt, tôi muốn vào sâu hơn trong rừng một chút. Mẫu vật ở tầng sâu có lẽ sẽ có điều kỳ diệu.
Đây là lần đầu tiên T.ử Dạ để lộ chút cảm xúc. Anh ấy không muốn, nói nguy hiểm.
Mấy ngày qua chúng tôi không gặp con quái vật nào, hành trình thuận lợi đến mức gần như khiến tôi quên mất nơi này nguy hiểm ra sao. Sự yên ổn kéo dài khiến tôi sinh ra ảo giác rằng nguy hiểm đã biến mất, trong khi thật ra nó vẫn luôn ở ngay bên cạnh.
T.ử Dạ không đồng ý, nhưng tôi cố chấp muốn đi.
T.ử Dạ cuối cùng nhượng bộ, nhưng cho tôi thời hạn chỉ ba tiếng, sau ba tiếng nhất định phải rời đi.
Tôi vui vẻ chấp nhận.
Chúng tôi vào rừng vào ban đêm, vì lúc này phần lớn quái vật đã nghỉ ngơi.
Thực vật trong rừng quả thật mỗi loài có đặc điểm riêng. Những loài thực vật trước đây tôi chỉ từng nhìn thấy qua sách vở giờ đều hiện hữu ngay trước mắt, có thể tận tay chạm vào. Bảo tôi không kích động thì là nói dối. Tôi chẳng khác nào một đứa trẻ lần đầu bước vào thế giới mới, hết lấy mẫu cây này lại đến cây khác, lòng đầy vui sướng.
Mọi biến cố đều bắt nguồn từ tiếng s.ú.n.g đó. Lúc đó tôi đang thu thập hạt giống, một tiếng s.ú.n.g vang lên, tôi mơ màng quay đầu, một con quái vật lộ nanh dưới ánh trăng ngã xuống bên cạnh tôi.
"Chạy mau!" T.ử Dạ hét lên.
Tôi lập tức hiểu tiếng s.ú.n.g đã kinh động lũ quái vật quanh đó. Con mồi đến miệng, chúng nhất định sẽ không buông tha. Tôi vội đeo ba lô lên rồi chạy. T.ử Dạ bám sát phía sau, thỉnh thoảng đẩy tôi về phía trước, còn mình ở lại đoạn hậu.
Tôi không biết đã chạy bao lâu, chạy đến mức tôi cảm thấy chân mình không còn cảm giác. Tôi muốn dừng lại nghỉ, nhưng có một lực rất mạnh đẩy mạnh tôi một cái. Tôi lảo đảo ngã xuống đất, thậm chí còn lăn mấy vòng.
"Đừng lên tiếng!"
Tôi lồm cồm bò dậy, người đầy bụi đất, vừa định hỏi chuyện gì xảy ra, vừa ngẩng đầu, tôi đã thấy một chiếc nanh xuyên thẳng qua n.g.ự.c T.ử Dạ. Anh ấy yếu ớt giơ tay, "Đi..."
Tôi không thể nhấc chân, chỉ đứng đó, cho đến khi tôi thấy anh ấy bị ném mạnh xuống đất, cho đến khi tôi không thấy anh ấy nữa, cho đến khi tôi nghe thấy tiếng thét t.h.ả.m của anh ấy.
Đó là lần đầu tiên tôi thấy lớp bình thản vẫn luôn phủ trên gương mặt anh bị xé toạc.
Cho đến khi mọi thứ trở về im lặng, tôi cố gắng bịt miệng, c.ắ.n c.h.ặ.t môi để không bật thành tiếng. Đến khi môi đau đến tê dại, tôi lại c.ắ.n lên mu bàn tay. Đến khi mọi thứ hoàn toàn im lặng, tôi mới nhận ra tay mình đã ướt đẫm.
Toàn là nước mắt.
Tôi hận chính mình đến tận xương. Nếu không phải tôi cứ đòi vào rừng, anh ấy sẽ không xảy ra chuyện. Thậm chí tôi còn nghĩ, tại sao lại gọi anh ấy là T.ử Dạ.
Anh không thể bước ra khỏi đêm ấy. Còn T.ử Dạ thì từ đó mãi mãi mắc lại trong đêm của tôi.
Đêm đó tôi ôm đầu gối, ở một nơi không biết, một mình chịu đựng đến sáng.
Sau đó, tôi quyết định quay về thành phố, rời khỏi đây.
Tôi nhớ T.ử Dạ ngày thường luôn thích ngồi trong bụi hoa. Sáng hôm sau, tôi đến chỗ có m.á.u đó. Ở đó chỉ có m.á.u, ngay cả t.h.i t.h.ể anh ấy cũng không có.
Nước mắt tôi lại rơi, hòa vào những cục m.á.u đã khô. Đất xung quanh vì nước mắt mà đổi màu. Tôi tìm quanh rất lâu nhưng không phát hiện thêm dấu vết nào có thể cho biết t.h.i t.h.ể anh đã bị kéo đi đâu.
Tôi bốc một nắm cát vàng không có m.á.u, tìm một nơi có hoa nhỏ lấm tấm, hai tay mở ra, cát tán ra, lại rơi vào đất vàng.
Con đường tiếp theo chỉ có thể một mình tôi đi. Tôi tìm bản đồ trong ba lô của T.ử Dạ, cố gắng tự tìm phương hướng.
Trước đây nghe người ta nói ở hoang dã không tìm được phương hướng, ban đêm nhìn sao Bắc Cực, ban ngày nhìn bóng.
Bây giờ là ban ngày, chỉ có thể nhìn hướng mặt trời và bóng. Tôi vốn chẳng giỏi xác định phương hướng. Loay hoay hồi lâu, cuối cùng tôi mới đoán được mặt trời lúc ấy đang chếch về phía đông bắc. Tìm được phương hướng rồi, tôi bắt đầu tìm đường.
Thành phố loài người để phòng quái vật xâm nhập, đã xây tường thành rất cao. Khi quay về, tôi mơ hồ thấy bóng tường thành. Trong khoảnh khắc, cảm giác thân thuộc và quyến luyến bất chợt dâng lên nghẹn n.g.ự.c. Hốc mắt tôi cay xè, bước chân cũng vô thức nhanh hơn.
Người ta khi thoát c.h.ế.t trong gang tấc luôn nghĩ mọi thứ đã kết thúc. Tôi chính là nghĩ như vậy, nhưng căn bản không phải.
Tôi đi về phía trước thì thấy, trên đường về thành có một vũng m.á.u lớn. Một vũng rất lớn.
Khi virus Pandora lần đầu xuất hiện, các nhà khoa học cho rằng nó chủ yếu lây truyền qua giọt b.ắ.n. Nhưng sau đó người ta ở cùng phòng với người bị nhiễm mà không bị lây, lý thuyết này bị lật đổ. Tiếp theo là thuyết lây qua m.á.u. Đúng là có người vì tiếp xúc m.á.u mà bị lây, nhưng có người tiếp xúc lại không. Nhà khoa học nghiên cứu phát hiện, nếu m.á.u của người nhiễm trực tiếp tiếp xúc với m.á.u của người lành thì gần như chắc chắn sẽ lây. Còn những trường hợp chỉ tiếp xúc ngoài da thì xác suất không ổn định, gần như phải trông vào may rủi. Nên quan điểm này vẫn thành hình, dùng đến tận bây giờ.
Tôi thời cao học chuyên ngành virus và d.ư.ợ.c lý, đối với m.á.u càng nhạy cảm.
Trước cảnh này, tôi có thể nói là không chút do dự lấy bộ đồ bảo hộ sạch còn lại trong ba lô ra mặc vào, định vòng qua.
Nhưng rất không may, con đường này đi thế nào, đều phải đi qua vũng m.á.u lớn này. Tôi đành hít sâu, cưỡng ép an ủi mình đi qua.
Càng đi càng gần, càng đi càng gần, gần đến mức tôi có thể thấy toàn cảnh vết m.á.u.
Gần đến mức tôi nhận ra giữa vũng m.á.u có một người.
Lý do vẫn có thể nhận ra bên trong có người, là vì tôi không tự chủ được đi gần hơn.
Trên người toàn là m.á.u, ngay cả mặt cũng không nhận ra. Dựa vào vóc dáng cao lớn và những đường nét còn nhận ra được dưới lớp m.á.u, tôi tạm đoán đó là một người đàn ông.
Có lẽ vì cái c.h.ế.t của T.ử Dạ vẫn còn ám ảnh, tôi không tự chủ được muốn xem, anh ấy còn sống không.
Qua lớp găng của bộ đồ bảo hộ, tôi cẩn thận tránh m.á.u trên mặt anh ấy, đo xem anh ấy còn hơi thở không.
Không cảm nhận được. Tôi đành thử bắt mạch ở cổ tay.
Khi tôi thấy vũng m.á.u lớn như vậy, tôi chủ quan cho rằng anh ấy c.h.ế.t chắc rồi. Chỉ nhìn lượng m.á.u trên mặt đất thôi cũng đủ khiến tôi tin rằng chẳng ai có thể còn sống.
Nhưng qua lớp bảo hộ, tôi vẫn có thể cảm nhận được mạch đập của anh ấy, nhịp đập yếu ớt.
Tôi lập tức ngẩn người. Anh ấy còn sống.
Tôi có chút không biết làm sao, là đưa anh ấy về thành phố, hay bỏ anh ấy ở đây?
Thật ra đối với nghiên cứu động thái của virus, có được mẫu virus còn hoạt tính là tốt nhất. Huống chi anh ấy còn mang theo một đĩa nuôi cấy sống.
Tuy tất cả suy nghĩ này xây dựng trên cơ sở anh ấy bị nhiễm, tôi chủ quan cho rằng vũng m.á.u lớn như vậy, anh ấy tám phần đã bị nhiễm. Những vết thương trên người anh rõ ràng do quái vật gây ra. Với mức độ tiếp xúc m.á.u như vậy, khả năng anh đã nhiễm Pandora là rất cao.
Dưới suy nghĩ này, cộng với nỗi đau vừa mất đi người đồng hành, tôi không thể mặc kệ thêm một mạng người nào nữa.
Tôi mặc cho anh ấy bộ đồ bảo hộ dự phòng, đặt anh ấy lên cáng gấp, quyết định kéo anh ấy về thành phố.
Do tính chất đặc biệt của chuyên ngành tôi học, sinh viên đang theo học và những người đã tốt nghiệp đều được phép thu thập mẫu sống ngoài hoang dã. Tuy nhiên, số lượng mẫu mỗi người được giữ phụ thuộc vào trình độ học vấn.
Tôi chỉ mới tốt nghiệp bậc cơ bản nên chỉ được phép sở hữu một mẫu mang virus.
Nên đưa anh ấy về thành phố, nghĩa là một khi đăng ký anh làm mẫu của mình, tôi sẽ không thể sở hữu thêm mẫu nhiễm nào khác, trừ khi học tiếp lên bậc cao hơn.
Nếu là trước đây, tôi chắc chắn sẽ cân nhắc thật kỹ trước khi quyết định. Nhưng bây giờ tôi thật sự không thể chấp nhận thêm một sinh mạng con người c.h.ế.t trước mắt mình nữa. Cuối cùng tôi kéo anh ấy về. Sau khi đăng ký xin mẫu ở cổng thành, tôi thấy giao diện xin mẫu của mình cứ thế dễ dàng tắt đi, trong lòng lại không khó chịu lắm.
Người ở trạm kiểm tra cổng thành trước tiên đưa mẫu của tôi về phòng thí nghiệm của tôi với biện pháp bảo hộ cao nhất. Đó là phòng thí nghiệm có phần xa hoa mà tôi được tiếp quản từ một tiền bối đã nghỉ nghiên cứu.
Còn tôi bây giờ cần ở lại cổng thành để sàng lọc virus.
Tôi có mẫu sống của riêng mình.
Mẫu duy nhất của tôi.