Kỷ Tầm Châu nói từng chữ rõ ràng.
“Ta đang hỏi ông đã làm gì sau khi nhận được cảnh báo rằng chứng cứ chưa đầy đủ. Ông không kiểm tra bản gốc. Không đặt thời hạn tái thẩm. Không yêu cầu báo cáo tiếp theo. Khi được thông báo rằng Kỷ Tông Hạc phản đối, ông vẫn ký. Những việc ấy đều có thể được kiểm tra bằng hồ sơ.”
Mạnh Tĩnh Kha nhìn nàng, sắc mặt dần lạnh đi.
“Cô nương muốn ta nhận tội?”
“Ta muốn ông trả lời câu hỏi.”
“Ta đã trả lời.”
“Vậy xin ông ký xác nhận lời khai hôm nay.”
Mạnh Tĩnh Kha không ký ngay.
Ông ta hiểu rằng một lời khai được lập thành hồ sơ có thể trở thành căn cứ đối chiếu về sau. Nếu ông thay đổi lời khai, sự mâu thuẫn sẽ được ghi lại.
Cuối cùng, ông ký.
Nhưng trước khi rời đi, ông ta nói:
“Cô nương nghĩ rằng mình có thể buộc mọi người chịu trách nhiệm chỉ bằng vài tờ giấy sao? Triều đình không vận hành như một bàn cân. Có những quyết định phải lựa chọn giữa điều xấu và điều tệ hơn.”
Kỷ Tầm Châu nhìn ông.
“Đúng. Triều đình không phải bàn cân đơn giản. Nhưng nếu một người có quyền quyết định chọn điều xấu, người ấy phải chịu trách nhiệm về phần thiệt hại mình gây ra. Không thể vừa nhận quyền lựa chọn, vừa phủ nhận hậu quả.”
Mạnh Tĩnh Kha không đáp.
Ông ta bước ra khỏi phòng thẩm vấn, để lại sau lưng một mùi hương trầm nhạt.
Kỷ Tầm Châu biết mình chưa thắng.
Nhưng nàng đã buộc một người từng đứng trên cao phải trả lời những câu hỏi mà năm năm trước không ai chịu hỏi.
Vụ án bắt đầu lan rộng.
Thương hội của Tào Kỳ bị niêm phong sổ sách. Các hợp đồng cung ứng quân nhu trong năm năm gần đây được rà soát lại. Một số khoản thanh toán không có đủ biên nhận, một số người ký nhận không thể xác minh danh tính.
Tào Kỳ bị triệu tập.
Hắn khai rằng mọi hợp đồng đều được ký theo giá thị trường, còn số lượng thiếu hụt là do kho quân nhu ghi sai. Hắn không biết Tào Ngạn đã làm gì trong Hộ bộ, cũng không biết quân báo Giáp Thất Nhị là văn thư giả.
Nhưng khi được hỏi về bức thư gửi vào nhà giam, hắn nói mình chỉ muốn khuyên người anh họ giữ bình tĩnh.
“Ta không đe dọa hắn.”
“Vậy vì sao ông viết rằng nếu hắn không giữ im lặng, hắn sẽ c/h/ế/t như người anh họ?”
Tào Kỳ khựng lại.
Người anh họ mà hắn nhắc đến trong thư không phải một người họ hàng xa. Đó là Tào Ngạn, người từng giúp hắn có được những hợp đồng cung ứng đầu tiên.
Sau khi Tào Ngạn bị bắt, Tào Kỳ lo sợ hắn sẽ khai ra toàn bộ đường dây.
Tuy nhiên, một bức thư đe dọa chưa đủ chứng minh Tào Kỳ đã tham gia biển thủ. Kỷ Tầm Châu yêu cầu điều tra tiếp các khoản thanh toán, đặc biệt là những khoản được chuyển qua người trung gian.
Một cái tên xuất hiện trong sổ chi tiêu của thương hội: Bành Hữu Đức.
Bành Hữu Đức từng là quản sự của một kho quân nhu, đã c/h/ế/t vì bệnh ba năm trước. Hắn không còn có thể bị thẩm vấn, nhưng sổ sách cho thấy hắn nhận được nhiều khoản tiền không có lý do rõ ràng ngay sau những lần kiểm kê thiếu hụt.
Tào Kỳ khai rằng đó là tiền trả công vận chuyển.
Nhưng hồ sơ vận chuyển không có chữ ký của Bành Hữu Đức.
Lại có một vấn đề khác: một phần tiền được chuyển vào tài khoản của người nhà hắn, sau đó dùng để mua đất và nhà ở quê.
Đây là chứng cứ về dòng tiền đáng ngờ, nhưng vẫn cần xác định tiền ấy có liên quan đến những hợp đồng cụ thể nào.
Điều tra viên tiếp tục đối chiếu ngày thanh toán với ngày lập bản kiểm kê bổ sung. Kết quả cho thấy ba khoản tiền được chuyển ngay sau khi hồ sơ thiếu hụt được điều chỉnh, và một khoản được chuyển sau khi vụ án của Kỷ Tông Hạc kết thúc.
Tào Kỳ không thể giải thích hợp lý.
Nhưng hắn vẫn cứng miệng:
“Ta không biết những người đó đã làm gì. Ta chỉ bán lương thực. Nếu họ dùng tiền của mình để mua đất, liên quan gì đến ta?”
Kỷ Tầm Châu nhìn hắn.
“Ông nói đúng. Nếu chỉ có việc mua đất, ta không thể kết tội ông. Nếu chỉ có việc bán lương thực, ta cũng không thể kết tội ông. Nhưng ông nhận tiền từ những hợp đồng có số lượng bất thường, chuyển tiền cho người phụ trách kho, rồi gửi thư đe dọa nhân chứng. Ta không cần ông thừa nhận tất cả ngay hôm nay. Ta chỉ cần ông giải thích từng khoản tiền, từng chữ ký, từng mốc thời gian.”
Tào Kỳ mím môi.
Nàng biết hắn đang chờ một cơ hội.
Hắn có thể chịu trách nhiệm về một vài sai phạm nhỏ để che giấu việc lớn hơn. Hắn cũng có thể đổ hết tội cho người đã c/h/ế/t.
Vì vậy, Kỷ Tầm Châu không cho phép vụ án dừng lại ở lời thú nhận của bất kỳ một người nào.
Mỗi khoản tiền phải được đối chiếu với hợp đồng.
Mỗi hợp đồng phải được đối chiếu với số lượng thực nhận.
Mỗi văn bản sửa đổi phải được đối chiếu với người có quyền tiếp cận.
Mỗi lời khai phải được phân biệt rõ giữa điều tận mắt chứng kiến và điều nghe kể.
Đến ngày thứ mười sau khi Tào Ngạn bị bắt, một nhân chứng mới xuất hiện.
Đó là người từng phụ trách đóng dấu trên các văn bản hậu cần của Hộ bộ. Ông ta tên Trình Khắc, đã rời chức vụ từ lâu, hiện sống cùng con trai ở một huyện nhỏ.
Trình Khắc khai rằng năm Vĩnh Túc thứ tám, Tào Ngạn từng mang đến một bản phụ lục quân báo, nói rằng cần đối chiếu mẫu dấu vì có sự thay đổi về quy trình. Khi ông hỏi văn bản ấy dùng vào việc gì, Tào Ngạn trả lời đó chỉ là bản mẫu, chưa có giá trị thi hành.
Trình Khắc không biết sau đó bản mẫu có bị sử dụng hay không.
Ông cũng không nhìn thấy ai làm giả chữ ký của Úc Đình Phác.
Nhưng ông xác nhận một điều: Tào Ngạn đã tiếp cận mẫu phụ lục hậu cần có cấu trúc giống với phần phụ lục trên quân báo Giáp Thất Nhị.
Lời khai này khớp với sổ cấp phát văn thư và tài liệu lưu trữ.
Nó không chứng minh Tào Ngạn là người duy nhất làm giả quân báo, nhưng chứng minh hắn có cơ hội tiếp cận mẫu văn bản.
Khi đối chiếu thêm với hồ sơ ra vào kho ấn tín, điều tra viên phát hiện trong ngày chiếc ấn bị mở niêm phong, Tào Ngạn có tên trong danh sách người được phép vào khu lưu trữ.
Lý do ghi trong sổ là: “Đối chiếu văn thư hậu cần.”
Đây là mắt xích quan trọng nhất từ trước đến nay.
Tào Ngạn có cơ hội tiếp cận mẫu văn bản.
Hắn có mặt trong khu lưu trữ khi chiếc ấn bị mở.
Hắn từng sửa đổi số liệu quân lương bằng một bản kiểm kê bổ sung không có chứng từ gốc.
Thương hội của Tào Kỳ hưởng lợi từ những hợp đồng được ký sau các lần thiếu hụt.
Những dữ kiện ấy khiến nghi vấn về hắn ngày càng mạnh.
Nhưng vẫn còn một câu hỏi: ai đã sử dụng chữ ký của Úc Đình Phác?
Nếu Tào Ngạn làm giả quân báo, hắn cần có chữ ký hoặc mẫu chữ ký của Úc Đình Phác. Nếu có người khác làm việc đó, người ấy phải được xác định.
Kỷ Tầm Châu tìm đến người từng làm thư lại trong phủ của Úc Đình Phác.
Người này khai rằng chữ ký của Úc Đình Phác thường xuất hiện trên các bản nháp văn thư hậu cần, vì ông từng phụ trách rà soát nội dung trước khi văn bản được trình lên. Một số bản nháp cũ đã được chuyển đến kho lưu trữ khi ông thay đổi chức vụ.
Những bản nháp ấy có thể bị lợi dụng làm mẫu chữ ký.
Kỷ Tầm Châu yêu cầu kiểm tra kho lưu trữ cũ.