Thi hội lần này được tổ chức bên bờ hào hộ thành.
Liễu xanh rủ bóng, đào hồng khoe sắc, nước biếc trong vắt dưới bầu trời cao rộng.
Chủ đề của thi hội do vị thi nhân danh tiếng bậc nhất kinh thành đích thân định ra.
Nam thanh nữ tú tham dự đều dựa theo chủ đề ấy để bày tỏ tâm ý, sáng tác thi phú.
Ngoài tờ giấy dùng để chép thơ, mỗi người còn được phát một đóa hoa đào cắt bằng giấy, nhỏ bằng đầu ngón tay.
Các bài thơ sẽ do người chuyên trách thu lại.
Sau đó, ba vị danh sĩ sẽ tuyển chọn những tác phẩm xuất sắc rồi treo lên cành liễu bên bờ sông để mọi người cùng thưởng lãm.
Ai yêu thích bài thơ nào thì dán đóa hoa đào giấy của mình lên bài thơ ấy.
Người nhận được nhiều hoa đào nhất sẽ trở thành khôi thủ của thi hội lần này.
Viết xong, ta khẽ thổi lên nét mực còn chưa khô.
Cố Thanh Xuyên chỉ lướt mắt nhìn bài thơ của ta một lượt rồi tự ý quyết định thay ta:
"Bài thơ này của nàng vẫn là đừng nộp lên thì hơn, kẻo lại thành trò cười."
Nụ cười trên mặt ta suýt nữa không giữ nổi.
"Nếu biểu ca thấy chỗ nào chưa ổn thì cứ chỉ ra, muội sẽ sửa lại."
Cố Thanh Xuyên lắc đầu, tỏ vẻ không tán thành.
"Bài thơ này của nàng chỉ toàn viết về nỗi sầu xuân của nữ nhi, khó có thể bước lên chốn tao nhã. Có sửa cũng vô ích."
Ta nhổ vào!
Không nhịn được, ta cúi đầu hung hăng trợn mắt lườm hắn.
Cớ sao tâm sự của nữ t.ử lại không xứng được đưa lên chốn thanh nhã?
Nhưng Cố Thanh Xuyên lại hiểu lầm.
Hắn tưởng ta bị tổn thương, bèn dịu giọng nói:
"Dù người khác không coi trọng, nhưng ta vẫn nguyện tặng nàng đóa hoa đào này."
Cố Thanh Xuyên xòe bàn tay ra, ra hiệu bảo ta đưa tờ giấy chép thơ cho hắn.
Ai thèm chứ.
Ngoài hắn ra, ta cũng chẳng thấy ai hạ thấp ta cả.
Bá gia và Bá phu nhân đều là người tốt như vậy, sao lại sinh ra cái đồ đáng ghét này chứ.
Ta lắc đầu, giả vờ như đã bị hắn thuyết phục.
"Biểu ca dạy phải."
Đúng lúc ấy, mấy vị bằng hữu của Cố Thanh Xuyên cùng nhau bước tới.
Hắn cũng không còn thời gian để trông chừng ta nữa.
Trước khi đi, hắn còn dặn:
"Nàng cứ đi cùng hai vị biểu muội, đừng chạy lung tung. Nếu có người ngoài chủ động bắt chuyện với nàng thì nhớ giữ ý tứ, đừng tùy tiện đáp lời."
Nghe qua thì có vẻ là quan tâm.
Nhưng lại khiến người ta vô cùng khó chịu.
Vì sao hắn cứ khăng khăng cho rằng chỉ có ta là sẽ chạy lung tung?
Ta nói chuyện với người khác thì sao lại thành không biết giữ lễ?
Chỉ vì ta xuất thân từ một nơi nhỏ bé mà hắn mang thành kiến với ta đến vậy sao?
Thật đáng ghét.
Đang ôm một bụng bực bội, bên tai chợt vang lên một giọng nói quen thuộc.
"Sao cô nương không nộp bài thơ?"
Ta quay đầu lại, bắt gặp gương mặt mỉm cười của Hứa Vân Tế.
Bị hắn xuất hiện bất ngờ, tim ta lỡ mất hai nhịp.
Hắn thật sự rất tuấn tú.
Đứng cạnh ta quả là xứng đôi.
Lòng ta rối như tơ vò. Vốn định đáp rằng sẽ lập tức mang bài thơ đi nộp, nhưng đến phút cuối lại đổi ý.
"Xin chào công t.ử."
"Ta chỉ lo bài thơ mình viết không hay, e rằng sẽ khiến người khác chê cười."
Nếu hắn cũng nói rằng thơ của ta không đủ tư cách mang ra trước mọi người, hoặc buông những lời mang thành kiến với nữ t.ử.
Vậy thì hắn cũng chẳng khác gì Cố Thanh Xuyên.
Có đẹp đến đâu, ta cũng tuyệt đối không gả.
Nếu hắn nói vài lời khích lệ, hoặc đề nghị giúp ta sửa thơ, vậy thì cũng tạm coi như đạt yêu cầu.
Hôm nay trở về, ta sẽ nói thật lòng mình với Bá phu nhân.
Nhờ phu nhân dò hỏi ý tứ của nhà họ Hứa.
Hứa Vân Tế nhận lấy tờ giấy chép thơ của ta, cúi đầu xem qua.
Hắn không nói bài thơ hay hay dở, chỉ mỉm cười nhàn nhạt:
"Tâm ý đã tuôn ra đầu ngòi b.út thì thơ tự khắc thành.
“Nếu cô nương đã viết ra những lời này, vậy chứng tỏ trong lòng cô nương vốn đã cho rằng nó là một bài thơ hay. Đã như vậy, người khác nhìn nhận thế nào cũng không còn quan trọng nữa."
Ta kinh ngạc chớp chớp mắt.
Lại nghĩ giống hệt ta.
Ta biết tài văn chương của mình có hạn, làm thơ chẳng qua chỉ để bày tỏ những điều chất chứa trong lòng.
Không cần cố ý tô vẽ, cũng chẳng cần người khác phán hay hay dở.
Quả thật rất hợp tính ta.
Ta đưa tờ giấy chép thơ cho người hầu của hội thi.
"Chuyện bánh hoa quế hôm trước, đa tạ công t.ử đã lên tiếng bênh vực."
Hứa Vân Tế chỉ mỉm cười, bảo ta không cần khách sáo.
Hai người cùng ngắm cảnh thêm một lúc, Hứa Vân Tế bắt đầu kể cho ta nghe vài giai thoại về con hào hộ thành này.
Thoạt nhìn, hắn vốn là người ít nói.
Không ngờ khi kể chuyện lại chậm rãi, mạch lạc, tình tiết lên xuống đầy hấp dẫn, khiến người nghe như lạc vào chính câu chuyện.
Lúc thì ta kinh ngạc, lúc lại cảm thán theo từng lời kể của hắn.
Đến đoạn cảm động, ta không kìm được mà nước mắt rơi ngay tại chỗ.
"Lục cô nương."
Hắn khẽ gọi ta một tiếng.
Lúc ấy ta mới giật mình nhận ra mình đã thất thố, vội đưa tay lau nước mắt.
Hứa Vân Tế lại lấy ra một chiếc khăn tay sạch sẽ đưa cho ta.
Trên chiếc khăn thêu một cành hải đường.
Đó chính là đường thêu của ta.
Là đồ của ta.
Sao lại ở trong tay Hứa Vân Tế?
Thấy vẻ nghi hoặc trên mặt ta, hắn mỉm cười nói:
"Lục cô nương còn nhớ lần đi thuyền vào kinh, cô nương từng cứu một người không?"
06
Ta nhớ ra rồi.
Hôm ngồi thuyền vào kinh, giữa đường thủy gặp phải cướp.
Tuy hộ vệ trên thuyền lớn kịp thời g.i.ế.c sạch bọn cướp, nhưng vẫn có không ít hành khách bị thương.
Trong đó có một vị cô nương bị thương nặng nhất.
Cánh tay trái bị c.h.é.m một nhát rất sâu, m.á.u chảy đầm đìa, trông như sắp đứt lìa.
Ta vội lấy khăn tay tạm thời cố định vết thương cho nàng.
Nàng đau đến mức gần như ngất đi.
Bên cạnh chỉ có một bà ma ma lớn tuổi chăm sóc.
May thay trên thuyền có một vị đại phu chuyên trị ngoại thương.
Ma ma van xin đại phu cứu vị cô nương ấy trước, nếu không cánh tay kia thật sự sẽ bị phế.
Thế nhưng vị đại phu ấy lại nhân cơ hội nâng giá, nhất quyết đòi trả trước mười lượng bạc tiền đặt cọc mới chịu ra tay.
Ma ma không lấy đâu ra số bạc ấy, chỉ đành nói vị cô nương này là thiên kim của Thượng thư bộ Công.
Chỉ cần đại phu chịu cứu người, sau này nhất định sẽ có trọng tạ.
Đại phu thấy hai người ăn mặc giản dị, lập tức hừ lạnh.
"Không có bạc thì khỏi nói."