Đến lúc ấy, ta chỉ thấy lòng mình lặng đi.
Lời yêu thích đến muộn sau bao nhiêu tổn thương, rốt cuộc có thể đổi lại điều gì?
Cuộc đời ta đã không còn cần Nguyên Lân làm trung tâm nữa.
Ta muốn rời đi, hắn lại ghì lấy không buông, tự trách mình là kẻ xấu xa, ngu ngốc nhất trên đời.
Hắn bảo ta cứ đ.á.n.h mắng, thậm chí đẩy hắn xuống hồ như ngày hắn từng hại ta, chỉ cần ta chịu nhìn hắn thêm lần nữa.
Nếu người ngoài trông thấy, có lẽ chẳng ai nhận ra vị Hoàng đế luôn cao ngạo ấy.
Nhưng ta không thể vì nước mắt hiện tại mà xem những năm tháng đã qua là chưa từng tồn tại.
Có lẽ hắn thực sự thích ta, cũng có lẽ hắn chỉ không chịu nổi việc người từng toàn tâm hướng về mình đã biết quay lưng.
Ta giằng mãi không thoát, đành đứng bất động, không muốn đáp thêm lời nào.
Đến nay ta có thể bình tĩnh nhắc chuyện cũ, nhưng trái tim ta cũng bằng m.á.u thịt, làm sao chưa từng đau đớn.
Ta không phải một món đồ, bị chán ghét thì ném đi, khi muốn lại gọi trở về.
Một câu xin lỗi chẳng thể xóa sạch tất cả vết thương ấy.
Đúng khi hai người còn giằng co, ta trông thấy Kỳ Quang xuất hiện dưới ánh trăng.
Giây phút nhìn thấy chàng, ta lại có được sự can đảm giống hệt ngày chạy vào đại điện nhận chỉ ban hôn.
Lợi lúc Nguyên Lân buông lỏng tay, ta thoát khỏi vòng ôm ấy, chạy hết sức về phía Kỳ Quang.
Chàng đón lấy ta rồi bế bổng lên, không hề để ta phải quay đầu tìm chỗ dựa.
Ta tựa trong lòng phu quân, nhìn thẳng vào Nguyên Lân: “Người ta chọn là Kỳ Quang.”
Kỳ Quang cứ thế bế ta rời cung, không nói một lời.
Đêm Thất Tịch, Kinh Thành treo đầy đèn hoa, ánh sáng từ lầu các hắt xuống mặt đường như một dòng sông rực rỡ.
Kỳ Quang vẫn im lặng.
Ta nằm trong lòng hắn, nhìn những vì sao trên trời rồi lại nhìn gương mặt nghiêng kiên nghị của người đang bế mình.
Đến lúc ấy ta mới chợt nhận ra, dường như mình vẫn chưa thật sự hiểu Kỳ Quang.
Về đến phủ đã rất khuya.
Trong lòng ta có một câu hỏi cứ quanh quẩn mãi.
Ta muốn biết hắn nghĩ thế nào về cuộc hôn nhân này, muốn biết năm ấy hắn cưới ta chỉ vì thánh chỉ hay còn lý do nào khác.
Nhưng lời đến bên môi rồi lại không thể nói ra.
Đêm đó ta trằn trọc mãi không ngủ, mà nguyên nhân lại hoàn toàn là vì Kỳ Quang.
Sáng sớm hôm sau, người trong cung đã đến truyền lời Thái Hoàng Thái Hậu triệu kiến.
Ta mang theo hai quầng thâm dưới mắt bước vào cung, phát hiện Thái Hậu cũng đã từ chùa trở về.
Hai người nhìn ta, thần sắc đều phức tạp.
Thái Hoàng Thái Hậu kéo ta lại gần, vuốt mặt rồi liên tục xin lỗi, nói người cũng không ngờ Nguyên Lân lại hồ đồ đến mức ấy.
Ta chỉ lắc đầu.
Bây giờ ta đã thành thân, phu quân lại là đại công thần, phía sau còn có Thái Hoàng Thái Hậu và Thái Hậu chống lưng.
Nguyên Lân cho dù là Hoàng đế cũng chẳng thể tùy tiện làm gì ta.
Thái Hậu thở dài, nói Nguyên Lân đã bị hai người giáo huấn một trận, hiện giờ đang bị phạt ở Phật Đường chép kinh cầu phúc cho ta.
Sau đó bà lại nhắc đến một chuyện khiến ta không hiểu.
Bà nói nếu đêm qua không có Kỳ Quang, nhân duyên số mệnh của ta và Nguyên Lân đã thật sự bị cưỡng ép quấn lấy nhau.
Ta nghe đến hai chữ số mệnh thì hoàn toàn ngơ ngác.
Thái Hậu đành nói thật.
Đêm qua Nguyên Lân đã triệu toàn bộ thuật sĩ của Trích Tinh Lâu, định dùng tà thuật để thay đổi nhân duyên của ta, cưỡng ép mệnh tinh của ta gắn với hắn.
May mắn Kỳ Quang kịp phát hiện và phá nghi thức, nếu không hậu quả sẽ khó lường.
Ta nghe xong mới biết dân gian có một loại tà thuật chuyên dùng cho người cầu mà không được.
Người thi thuật có thể cưỡng ép nhân duyên của người mình yêu vào mệnh tinh của bản thân, nhưng cái giá phải trả là tổn thọ hai mươi năm.
Ta càng nghe càng khó hiểu.
Kỳ Quang là võ tướng, vì sao hắn lại nhận ra những thứ liên quan đến thiên tượng và tà thuật.
Thái Hoàng Thái Hậu thở dài, nói đây cũng chính là nguyên nhân ban đầu hai người từng do dự chuyện ta gả cho hắn.
Kỳ Quang từ khi sinh ra đã được cho là có thiên phú chiêm tinh hiếm thấy.
Quốc Sư năm ấy suy diễn mệnh cách, kết luận hắn là Tham Lang tinh giáng thế.
Tham Lang chủ chiến, sát khí quá nặng, trong mắt người đời không phải điềm lành cho vận số Đại Lương.
Bởi vậy trước năm tám tuổi, Kỳ Quang phần lớn sống bên cạnh Quốc Sư, học những thuật liên quan đến thiên tượng và bói toán, mong có thể dùng đạo pháp ôn hòa bớt sát khí trên người hắn.
Kỳ gia cũng giống Trấn Bắc Hầu phủ nhà ta, đều nhờ quân công mà hiển hách.
Nhưng người hành quân lại đặc biệt kiêng kỵ hai chữ sát tinh.
Mẫu thân Kỳ Quang lại mất vì khó sinh ngay khi sinh hắn, nên Kỳ Nguyên soái càng tin đứa trẻ này mệnh cứng, khắc c.h.ế.t mẹ ruột.
Thái Hoàng Thái Hậu thương hắn, mới để Quốc Sư nuôi dưỡng tại Trích Tinh Lâu, lại tìm sư phụ dạy võ, cho nhập Thái Học đọc sách, hy vọng sau này trở thành người hữu dụng cho Đại Lương.
Đến tận năm hai mươi tuổi, hắn mới thật sự rời khỏi cung.
Thái Hậu tiếp lời rằng năm đó Kỳ Quang được đặc cách tự do ra vào không ít nơi trong cung.
Chỉ có điều cung nhân đều biết lời đồn sát tinh, vì kiêng sợ nên chẳng mấy ai nguyện chủ động qua lại với hắn.
Võ nghệ của Kỳ Quang lại do Sở lão Hầu gia truyền dạy.
Đám công t.ử ăn chơi ngoài phố chưa từng biết những chuyện trong cung, chỉ thấy hắn võ công cao, tính tình ngang ngược, nên chẳng bao lâu Kỳ Quang đã nổi danh như một tiểu bá vương nơi chợ b.úa.
Quốc Sư không biết đã phải thu dọn hậu quả cho hắn bao nhiêu lần.
Thái Hoàng Thái Hậu nghe đến đây còn cố ý kể thêm một loạt chuyện xấu thời nhỏ của Kỳ Quang, từ trêu mèo chọc ch.ó đến trộm dưa hái táo, rồi kết luận đứa trẻ này ba tuổi đã nhìn ra tính nết, vừa cô độc vừa dữ dằn.
Hai vị Nương nương thay nhau nói đến khô cả họng, ý trong lời ngoài đều muốn ta cân nhắc chuyện hòa ly.
Ta lại chống cằm nghe đến say mê.