Chàng đứng giữa những lời bàn tán hồi lâu, sau đó cúi xuống nhặt chiếc khóa vàng cất vào n/g/ự/c áo rồi quay người rời đi.
Thanh Nhai theo ra được vài bước thì ngoảnh đầu nhìn lại.
Ta núp sau những người đứng xem, chỉ dám lén vẫy tay với hắn.
Hắn nhìn thấy, cũng nhẹ nhàng gật đầu.
Đêm ấy, phu nhân đến phòng tiểu thư.
Tiểu thư gục bên bàn rơi lệ, phu nhân ngồi xuống cạnh nàng, vén những sợi tóc mai rối ra sau tai cho nàng.
Phu nhân chậm rãi nói: “Nếu cha con thật sự không cho con chờ đứa trẻ Hạ gia ấy, mấy năm trước ông ấy đã tìm hôn sự khác cho con rồi.”
“Kinh thành có biết bao bà mối, lẽ nào lại không tìm được một nhà thích hợp?”
Tiểu thư bỗng ngẩng phắt đầu lên.
Phu nhân lại chọc nhẹ trán nàng: “Con tưởng ngày nào Thạch Lựu cũng chui qua lỗ ch/ó ở bức tường phía tây, cha con chẳng hay biết chút gì sao?”
Lần này chẳng riêng tiểu thư sửng sốt, ta cũng hít ngược một hơi.
Phu nhân liếc xéo ta: “Ta còn chưa tính sổ với ngươi đâu đấy, Thạch Lựu.”
“Tuổi còn nhỏ mà g/a/n lớn thật, dám đưa cả tiểu thư ra ngoài lén gặp người ta!”
Ta hoảng hốt quỳ xuống: “Phu nhân, đều là lỗi của nô tỳ, xin người trách phạt nô tỳ!”
“Mẫu thân, không phải lỗi của Thạch Lựu, là con...”
Phu nhân mỗi tay kéo lấy một người chúng ta: “Được rồi!”
Nhìn bộ dạng kinh hoảng của cả hai, bà thở dài: “Ta đâu có đến để hỏi tội.”
Phu nhân nói với tiểu thư: “Cha con không hẳn thật lòng tin những lời kia, chỉ là vụ án năm ấy đã bị bệ hạ vội vàng kết luận là do giặc cướp gây ra.”
Bà nói tiếp: “Nếu cha con chủ động lật lại vụ án, người ngoài sẽ bảo ông ấy nghi ngờ thánh đoán.”
“Làm quan trong triều, ông ấy không thể chỉ dựa vào chút nghi ngờ trong lòng mà hành động.”
Tiểu thư lẩm bẩm: “Vậy nên...”
“Vậy nên để đứa trẻ Hạ gia tự đi điều tra, ngoài mặt chỉ là vì muốn cưới con nên nó không chịu từ bỏ, người ngoài cùng lắm cũng coi đó là chuyện tình cảm nam nữ.”
Giọng phu nhân bình tĩnh, nhưng khóe mắt cũng đã ươn ướt.
Bà nắm tay tiểu thư: “Cha con ấy mà... cũng mong tìm được chân tướng lắm.”
“Nương... con, con không biết...”
Tiểu thư vùi vào lòng phu nhân, nước mắt lại tuôn rơi.
Phu nhân khẽ vỗ lưng nàng, nhỏ giọng khuyên: “Đừng trách cha con nữa.”
“Nỗi khổ trong lòng ông ấy cũng chẳng có nơi nào để giãi bày.”
Những ngày sau đó, chúng ta chỉ còn biết chờ đợi.
Thư của Hạ công t/ử gửi về không có kỳ hạn cố định.
Có khi nửa tháng đã nhận được một lá, có khi phải chờ tròn một tháng.
Trong thư vẫn không thiếu những lời tình tứ khiến ta chẳng hiểu nổi, cũng có vài dòng kể chuyện dọc đường để chúng ta biết họ đã tới đâu.
Trong một lá thư, chàng than phiền: “... Tiền bạc mang theo vốn đã eo hẹp, thế mà dọc đường còn phải nuôi cái miệng ham ăn của Thanh Nhai...”
Ít lâu sau, chàng lại viết: “... Hôm qua nguy hiểm vô cùng, may mà Thanh Nhai vung nắm đ/ấ/m đ/á/n/h đuổi bọn vô lại ấy...”
Lá thư kế tiếp thì nói: “... Đợi về kinh thật phải để Thanh Nhai học xem người khác làm thị vệ thế nào...”
Những chuyện hiểm nguy lẫn vụn vặt trên đường, qua ngòi b/út Hạ công t/ử, lại trở nên sống động như hết quyển thoại bản này đến quyển thoại bản khác.
Chỉ có điều Thanh Nhai chưa từng tự viết riêng cho ta lấy một chữ.
Ta chỉ có thể nhặt nhạnh bóng dáng hắn từng chút một từ những lá thư của Hạ công t/ử.
Tiểu thư đọc nhiều rồi cũng nhận thấy có điều khác lạ, nàng cầm thư chỉ vào mấy dòng ấy: “Thanh Nhai này hình như không phải thị vệ bình thường...”
Nàng nói, thị vệ bình thường nào dám giận dỗi chủ nhân như vậy.
Ta nhìn cái tên trên giấy, khẽ đáp: “Vâng.”
Tiểu thư ngồi trong sân viết thư hồi âm, còn ta chống cằm nhìn về cây ngô đồng bên bức tường phía tây.
Hôm nay Thanh Nhai đã đi đến đâu rồi?
Bầu trời nơi hắn đang ở có quang đãng như kinh thành hôm nay không?
Những ngày chờ đợi, có lúc trôi chậm chạp, có lúc lại nhanh đến nỗi chẳng thể níu giữ.
Có khi nước mưa dưới mái hiên tí tách từng giọt, tưởng như một ngày dài mãi chẳng hết.
Có khi tháng ngày lại trôi như dòng nước xiết, mới giở vài tờ lịch mà gió xuân mới đã ùa vào sân.
Đầu xuân năm thứ hai, lá thư cuối cùng của Hạ công t/ử được đưa đến.
Trên giấy chỉ vỏn vẹn tám chữ: “Ngày mai về kinh.”
“Mọi việc ổn thỏa.”
Nhân chứng và vật chứng chàng mang về đều đã được trình lên trước ngự tiền.
Thánh thượng xem xong hồ sơ thì nổi trận lôi đình, lập tức hạ chỉ xét xử lại vụ án cũ.
Vụ án năm xưa bị kết luận qua loa là do giặc cướp gây ra, cuối cùng đã được lật lại.
Cuộc điều tra lại nhanh ch/óng phát hiện Ngô Toàn mới chính là đầu mối gây họa.
Hắn lợi dụng việc chuyển công văn giúp thúc phụ Thẩm gia để âm thầm cấu kết với đám quan lại phụ trách vận chuyển lương bằng đường thủy ở Thiểm Châu.
Khi vụ tham ô sắp bị bại lộ, hắn dứt khoát bán tin cho bọn giặc cướp, muốn tất cả người biết chuyện phải im miệng, sau đó giả làm kẻ may mắn thoát c/h/ế/t.
Phu thê Hạ gia lúc ấy không hề bỏ mặc ai, trái lại đã liều mạng cứu thúc phụ Thẩm gia.
Ngô Toàn sợ có người còn sống trở về kinh vạch trần mình, nên mới hại c/h/ế/t tất cả bọn họ.
Chân tướng sáng tỏ, Hạ gia rửa sạch tiếng xấu đeo đẳng bao năm.
Thẩm lão gia đích thân đến từ đường Hạ gia thắp hương, đứng trước các bài vị rất lâu.