Ta đặt một tờ hòa ly thư lên bàn, mực trên giấy đã khô, từng nét chữ đều rõ ràng, sau đó dẫn Phương Thảo chuyển đến ở trong chùa.

Đã nhìn nhau chỉ thấy chán ghét, chi bằng từ nay đừng gặp lại nữa.

Huống chi, ta vẫn còn những chuyện quan trọng phải làm.

Hiện giờ Hoàng đế đang lâm bệnh nặng, tình trạng nguy kịch.

Thái t/ử đã đến ngôi chùa này ăn chay niệm Phật, cầu phúc cho phụ hoàng suốt hơn ba tháng.

Kiếp trước, ta thường xuyên đến đây thắp hương cầu tự.

Sau khi mang thai, ta lại tiếp tục đến chùa cầu mong đứa trẻ trong bụng được bình an, khỏe mạnh.

Một đêm nọ, ta tình cờ nhìn thấy một vị quý nhân đến chùa.

Mãi sau này, ta mới biết người ấy chính là Hoàng hậu nương nương.

Cứ bảy ngày một lần, Hoàng hậu lại đến đây, vừa để thăm Thái t/ử, vừa cầu phúc cho Hoàng đế.

Hôm ấy, trong chùa bỗng trở nên canh phòng nghiêm ngặt khác thường.

Ta hiểu ngay, đêm mình chờ đợi cuối cùng đã đến.

Những ngày qua, ta đều chép kinh vào ban ngày, đến đêm lại quỳ trước tượng Phật thành tâm cầu phúc.

Dưới ánh đèn dầu trong ngôi chùa thanh tịnh, ta cẩn thận viết từng nét chữ, đọc từng câu kinh, đem tất cả lòng thành kính gửi vào từng trang giấy.

Ta thành tâm cầu nguyện:

"Cầu xin trời cao thương xót, phù hộ long thể Bệ hạ sớm ngày bình phục, phù hộ quốc vận triều ta hưng thịnh, bốn biển thái bình, lê dân an cư lạc nghiệp."

"Dân nữ nguyện từ nay đoạn tuyệt điều ác, tu dưỡng điều thiện, ăn chay lễ Phật suốt đời, đem từng chút công đức hồi hướng cho hoàng thất, cho vận nước."

"Chỉ mong thiên hạ thái bình, muôn dân không còn chịu khổ."

Trong điện, khói hương lượn lờ.

Đúng lúc ấy, phía sau bỗng vang lên một giọng nói uy nghiêm, dù không hề cao giọng vẫn khiến người khác cảm thấy kính sợ.

"Ai đang ở đây cầu phúc cho Bệ hạ?"

Ta giả vờ giật mình, vội quay đầu lại, làm ra vẻ hoàn toàn không biết thân phận người vừa đến.

Ta cúi đầu, cung kính đáp:

"Dân nữ chỉ là một người dân bình thường.

Hơn một tháng trước, dân nữ từng được tiên nhân báo mộng, dặn phải ăn chay niệm Phật, ngày ngày chép kinh cầu phúc."

"Tiên nhân còn nói, sau ba lần bảy ngày, long thể Bệ hạ sẽ bình phục."

"Dân nữ cũng không biết lời ấy là thật hay giả, chỉ nghĩ dù sao mình cũng nên làm chút gì đó cho giang sơn, cho Bệ hạ."

Hoàng hậu đứng trong ánh đèn mờ, đôi mắt phượng hơi cụp xuống.

Ta biết bà chưa hoàn toàn tin những gì mình vừa nói.

Thế nhưng khi ánh mắt Hoàng hậu dừng lại trên chồng kinh thư dày cộp đặt trước đầu gối ta, rồi nhìn đến gương mặt đang được ánh nến soi đỏ, thần sắc bà cuối cùng cũng dịu đi đôi chút.

"Ngươi có lòng rồi."

Nào ngờ, ngay sau đó, Hoàng hậu như bất ngờ phát hiện ra điều gì.

Ánh mắt bà lập tức thay đổi, rồi bà cúi xuống nắm lấy cánh tay ta.

Bởi khi chép kinh, ta thường xắn tay áo lên rồi buộc gọn lại cho khỏi vướng, nên lúc này một đoạn cẳng tay vẫn đang để lộ bên ngoài.

Dưới ánh nến, vết sẹo cũ trên tay ta hiện lên vô cùng rõ ràng.

Hoàng hậu nhẹ nhàng đưa đầu ngón tay vuốt qua vết sẹo, hai hàng lông mày khẽ nhíu lại.

"Vết sẹo này..."

Ta làm như chẳng có gì đáng để nhắc đến, bình thản giải thích:

"Đây là vết thương từ hai năm trước, khi dân nữ cứu một tiểu cô nương bị rơi xuống nước.

Lúc ấy, đứa trẻ vùng vẫy quá mạnh nên vô tình cào bị thương tay dân nữ."

"Hai năm trước?"

Ngón tay Hoàng hậu lập tức khựng lại.

Bà đột ngột ngẩng đầu nhìn ta, ánh mắt trở nên sắc bén khác thường.

"Ngươi tên là gì?"

Ta làm ra vẻ do dự trong chốc lát, sau đó mới cúi đầu đáp:

"Dân nữ tên Đoàn Trần Tương."

Đã hơn nửa tháng trôi qua kể từ ngày Đoàn Trần Tương rời khỏi Giang phủ, nhưng nàng đi rồi thì chẳng thấy trở về nữa.

Thành thân đã hai năm, chưa bao giờ nàng hành động quyết tuyệt như lần này.

Giang Tùng Đào ngày nào cũng ngồi trước bàn, thất thần nhìn tờ hòa ly thư mà thê t/ử để lại.

Tờ giấy ấy đã bị chàng cầm lên đặt xuống, đọc đi đọc lại không biết bao nhiêu lần, đến mức từng nét chữ trên đó gần như đã khắc sâu vào trí nhớ.

Càng nhìn, chàng lại càng cảm thấy l/ồ/ng n/g/ự/c nặng nề, khó chịu.

Bởi nét chữ trên tờ hòa ly thư này rõ ràng giống hệt nét chữ trên những mảnh giấy nhỏ mà người năm xưa vẫn thường gửi kèm cho chàng.

Giang Tùng Đào vẫn nhớ rất rõ những mảnh giấy ấy.

Suốt những năm tháng còn nghèo khó, mỗi lần nhận được một bọc đồ tiếp tế, bên trong đều có một tờ giấy nhỏ với vài dòng dặn dò.

Lời lẽ tuy ngắn ngủi nhưng câu nào cũng chu đáo, khiến người đọc cảm thấy được quan tâm.

Chàng vẫn luôn tin rằng tất cả những mảnh giấy ấy đều do A Nhu viết.

Rõ ràng phải là A Nhu mới đúng.

Sao bây giờ lại biến thành Đoàn Trần Tương được?

Giang Tùng Đào ngồi trước bàn sách, hai hàng lông mày càng lúc càng nhíu c/h/ặ/t.

Chàng đưa tay chống lên trán, cảm giác như toàn bộ suy nghĩ trong đầu đều bị khuấy đảo, chẳng thể phân biệt rõ điều gì là thật.

Nghĩ kỹ lại, hai người đã thành thân suốt hai năm, vậy mà chàng chưa từng để tâm đến nét chữ của thê t/ử.

Nhưng khi bắt đầu hồi tưởng, những chuyện nhỏ nhặt trong cuộc sống vợ chồng bỗng lần lượt hiện lên, giống như những viên ngọc rơi vãi khắp nơi, đến lúc này mới được một sợi chỉ vô hình xâu lại.

Nàng từng âm thầm giặt giũ, hồ áo cho chàng, còn cẩn thận may thêm một đường chỉ ở cổ tay áo, nói rằng làm như vậy y phục sẽ bền hơn.

Những ngày đông lạnh giá, nàng lặng lẽ đặt một chiếc lò sưởi chân dưới bàn sách, sợ chàng ngồi đọc sách quá lâu sẽ bị lạnh, trong khi bản thân chỉ mặc một chiếc áo bông cũ đã dùng nhiều năm.