Ta muốn khi có người nhìn ta, không phải vì thương hại, không phải vì ân tình, cũng không phải vì chướng mắt.
Nương đặt hôn thư lại vào tay ta, giọng hơi nghẹn.
“Có phải Lục Hoài Xuyên bắt nạt con không?”
“Không.”
Ta nói: “Chàng không đ.á.n.h con, cũng không mắng con.”
Chàng chỉ xem ta như một phiền toái sớm muộn gì cũng phải xử lý.
Nhưng nếu nói câu ấy ra, nương sẽ đau lòng.
Ta nghĩ một lúc rồi đổi cách nói.
“Nương, chàng không muốn cưới con.”
“Con cũng không muốn gả cho một người không muốn cưới mình.”
Hốc mắt nương đỏ lên.
Bà ngồi xuống bên cạnh, nắm lấy tay ta.
“Tri Vi, con nghĩ kỹ rồi sao?”
Ta gật đầu.
“Con nghĩ kỹ rồi.”
“Từ hôn rồi, bên ngoài sẽ có người nói ra nói vào.”
“Vậy cứ để họ nói.”
Ta nói: “Lưỡi mọc trong miệng họ, còn cuộc sống nằm trong tay con.”
Nương nhìn ta thật lâu, bỗng bật cười rồi lại lau khóe mắt.
“Được.”
“Con gái ta muốn từ thì chúng ta từ.”
Người nhà họ Lục đến rất nhanh.
Lục bá mẫu dẫn Lục Hoài Xuyên ngồi trong chính đường, sắc mặt âm trầm như trời sắp đổ mưa.
Ta đặt thư từ hôn lên bàn.
Lục Hoài Xuyên mặc trường sam màu nguyệt bạch, sắc mặt vẫn tái nhợt, giả vờ rất giống người còn chưa khỏe sau cơn bệnh.
Chàng nhìn ta, khẽ cau mày.
“Tạ cô nương, đây là có ý gì?”
Ta nhìn chàng.
Trước kia ta luôn thấy mày mắt chàng đẹp, giống hệt thư sinh trong tranh.
Bây giờ nhìn lại, chỉ cảm thấy quá sạch sẽ.
Sạch sẽ đến mức như chưa từng dính nửa phần khói lửa nhân gian, cũng chưa từng dính nửa phần chân tâm.
“Từ hôn.”
Ta nói.
Lục bá mẫu vội nói: “Tri Vi, có phải sau khi Hoài Xuyên mất trí nhớ, nó đối đãi với con lạnh nhạt không?”
“Nó chỉ đang bệnh, đợi nó nhớ lại là được.”
“Không cần đợi.”
Ta đẩy tờ giấy khác tới.
Đó là thư từ hôn ta nhờ tú tài trong thôn viết hộ, trên đó ghi rất rõ: hôn ước chấm dứt, từ nay nam cưới nữ gả, không còn liên can.
Sắc bệnh trên mặt Lục Hoài Xuyên nhạt đi một chút.
“Tạ Tri Vi, nàng biết từ hôn có nghĩa là gì không?”
“Biết.”
“Sau này nàng chưa chắc tìm được mối hôn sự tốt hơn ta.”
Chàng nói câu ấy rất bình thản.
Bình thản như đang nhắc ta hôm nay trời lạnh, nên mặc thêm một lớp áo.
Ta cũng bình thản gật đầu.
“Vậy cũng không sao.”
Chàng sững lại.
Ta nói tiếp: “Ta lấy chồng không phải để so ai tốt hơn ai.”
“Ta chỉ muốn gả cho một người thật lòng muốn cưới ta.”
Sắc mặt Lục Hoài Xuyên cuối cùng trầm xuống.
“Nàng lại đang giở tính khí gì vậy?”
“Ta không giở tính khí.”
Ta ngẩng đầu nhìn chàng.
“Lục công t.ử, chàng mất trí nhớ cũng được, không mất cũng được, đều không quan trọng.”
“Chàng không muốn cưới ta, ta cũng không muốn miễn cưỡng chàng.”
Lục bá mẫu cuống quýt muốn nắm tay ta.
“Tri Vi, Hoài Xuyên nó…”
“Bá mẫu.”
Ta nhẹ giọng cắt lời bà.
“Năm xưa cha ta giúp nhà họ Lục là vì ân tình, không phải để con gái mình đi cầu một phần tình nghĩa phu thê mà người khác không muốn cho.”
Trong phòng chợt im phăng phắc.
Ta nghe bên ngoài có người gánh hàng đi qua, chiếc chuông đồng trên đòn gánh khẽ leng keng một tiếng.
Lục Hoài Xuyên nhìn chằm chằm ta, ánh mắt lạnh đi.
“Nàng đã nghe thấy gì?”
Hóa ra chàng cũng biết ta không vô duyên vô cớ mà từ hôn.
Ta không trả lời.
Vạch bí mật ra, tất cả mọi người đều sẽ khó coi.
Ta không muốn mình khó coi, cũng không có hứng nhìn chàng khó coi.
Ta chỉ đẩy thư từ hôn về phía trước thêm một chút.
“Ký đi.”
“Từ nay về sau, Lục công t.ử đi đường mây xanh của chàng, ta về nơi nhỏ bé của ta.”
Lục Hoài Xuyên không ký.
Có lẽ chàng cho rằng ta chỉ đang giận dỗi, vài ngày sau sẽ hối hận.
Nhưng ta không đợi chàng.
Ta cất phần hôn thư của mình, đứng dậy về phòng thu xếp hành lý.
Ngày thứ ba, ta và nương ngồi xe bò trở về trấn Thanh Thạch.
Bánh xe lăn qua quan đạo, ta không hề quay đầu.
Trấn Thanh Thạch nhỏ hơn trong thành rất nhiều.
Trên phố có người bán đậu phụ, người bán kim chỉ, người gánh kẹo đường trên vai.
Ta lớn lên ở đây từ nhỏ, nhắm mắt cũng biết bánh nướng nhà nào giòn, dưa muối nhà nào mặn.
Vừa vào trấn đã ngửi thấy mùi thịt thơm nồng.
Ta ngẩng đầu nhìn, phía trước là tiệm thịt nhà họ Hạ.
Trước cửa hàng đứng một nam nhân cao lớn, mặc áo ngắn vải thô, tay áo xắn tới khuỷu, đang c.h.ặ.t thịt cho khách.
Cánh tay chàng rắn chắc, động tác cầm d.a.o vừa vững vừa gọn.
Nghe tiếng xe bò, chàng ngẩng đầu.
Ta và Hạ Trường Canh nhìn nhau.
Con d.a.o trong tay chàng suýt c.h.ặ.t lệch khỏi thớt.
“Tri Vi?”
Hạ Trường Canh là hàng xóm của ta từ nhỏ.
Ta gọi chàng là Trường Canh ca, còn người trong trấn đều gọi chàng là Hạ đồ tể.
Cha chàng mất sớm, mười sáu tuổi chàng đã tiếp quản tiệm thịt.
Có người cảm thấy nghề mổ heo thô tục, không thanh quý bằng người đọc sách.
Ta không thấy vậy.
Thịt Hạ Trường Canh bán luôn sạch sẽ, tươi mới, chưa từng thiếu cân thiếu lạng.
Nhà nào có người già trẻ nhỏ bị bệnh, chàng còn lặng lẽ nhét thêm một khúc xương, bảo mang về ninh canh.
Hồi nhỏ ta lên cơn sốt, chàng cõng ta chạy ba dặm đường đi tìm lang trung.
Khi ấy chàng cũng mới mười hai tuổi.
Ta nằm trên lưng chàng, sốt đến mơ mơ màng màng, vẫn nhớ mãi miếng bánh hoa quế chưa ăn hết.
Chàng vừa thở dốc vừa hứa với ta: “Nàng tỉnh lại, ta mua cho nàng mười miếng.”
Về sau ta tỉnh, chàng thật sự mua đủ mười miếng.
Mặc dù lúc ấy nhà chàng rất nghèo, tiền mua mười miếng bánh hoa quế đủ để chàng ăn lương khô hai ngày.
Hạ Trường Canh nhìn thấy tay nải bên cạnh ta, sắc mặt khẽ đổi.
“Sao nàng lại về rồi?”