Hoàn Vương xem xong bản quân báo, đúng lúc ấy tin hoàng đế bệnh nặng cũng truyền đến doanh trại.
Ông ta hiểu rõ thời gian không còn nhiều, nếu không nhanh ch/óng tiến vào kinh thành, e rằng mọi chuyện sẽ không còn kịp nữa.
Huống chi bên cạnh còn có Trình Huyền đang bị những bức mật thư của Hà Thế Thu mê hoặc, liên tục thêm lời thúc giục, càng khiến Hoàn Vương tin rằng cơ hội đoạt lấy ngai vàng đã ở ngay trước mắt.
Hoàn Vương suy nghĩ chưa đến thời gian uống hết một chén trà đã đập bàn quyết định.
Ông ta nóng lòng lên đường, nóng lòng chiến thắng, càng nóng lòng xông vào kinh thành trước khi hoàng đế trút hơi thở cuối cùng.
Bởi vậy, ông ta tin ta.
Sau khi ba nghìn thủy quân bị điều đi bằng quân lệnh giả, cánh phía Đông của vùng đầm lầy thực sự trở thành một khoảng trống phòng thủ.
Đợi đến khi ta dẫn năm trăm binh sĩ tiến vào, trong đám lau sậy chỉ còn lại những dân phu đứng cạnh các hình nộm bằng rơm dùng làm nghi binh.
Ta sai người phóng một mồi lửa, thiêu hủy cầu phao, cắt đứt đường vận lương, hoàn toàn x/é to/ạc cánh phía Đông của phòng tuyến quân Trấn Bắc.
Khi Hoàn Vương nhận được tin ta chỉ dùng năm trăm người đã phá tan phòng tuyến vùng đầm lầy, ông ta mừng rỡ không sao kiềm chế nổi, ngay tại chỗ thăng thưởng cho ta.
Mấy phần nghi ngờ cuối cùng dành cho ta cũng theo trận đại thắng ấy mà tiêu tan quá nửa.
Trong mắt ông ta, ta là một thanh đao sắc bén, vừa có năng lực, vừa ngoan ngoãn phục tùng, chuyên thay ông ta mở đường c/h/é/m địch.
Còn thanh đao ấy âm thầm cất giấu bao nhiêu mưu tính, bao nhiêu đường đi nước bước quanh co, ông ta căn bản chẳng buồn suy xét.
Bởi từ đầu đến cuối, ánh mắt ông ta chỉ hướng về một nơi.
Kinh thành, ngai vàng và thiên hạ.
Cho nên ông ta không nhìn thấy lưỡi đao trong tay mình từ lâu đã âm thầm xoay hướng, chĩa thẳng vào chính ông ta.
Ngày ta rời khỏi kinh thành, trời trong xanh, nắng đẹp.
Vương Đại Dũng cưỡi ngựa đuổi theo suốt mười dặm, cuối cùng cũng bắt kịp, nhét vào lòng ta một bầu rượu.
"Đại nhân... À không, phải gọi là Cố đại nhân mới đúng. Ngài thật sự muốn đi sao?"
Ta treo thanh kiếm lên yên ngựa, ngoảnh đầu nhìn lại tường thành kinh đô.
Trên đỉnh thành đã thay một lá cờ mới, đang tung bay phần phật trong gió.
"Ừ."
"Vậy sau này ngài định đi đâu?"
Ta khẽ kéo dây cương, suy nghĩ một lát rồi đáp:
"Xuống phương Nam vậy."
"Phương Nam? Nhưng phía Nam chẳng phải đã đ/á/n/h xong hết rồi sao?"
Ta bật cười, nhìn con đường lớn trải dài về phía trước.
"Đánh trận thì xong rồi, nhưng ruộng đồng vẫn còn bỏ hoang. Dù sao cũng phải có người đến cày cấy chứ."
Vương Đại Dũng ngẩn ra một thoáng, dường như chưa từng nghĩ rằng một người vừa lập được công lớn, được triều đình trọng vọng như ta, cuối cùng lại chỉ muốn rời kinh thành để đi cày ruộng.
Rồi hắn bỗng nhe răng cười, để lộ hàm răng trắng bóng.
"Vậy ta đi cùng ngài! Ta trồng trọt giỏi lắm đấy!"
Ta không từ chối.
Tiếng vó ngựa vang lên trên đường quan, cuốn theo từng đám bụi mù.
Ta đưa tay chạm vào đôi móc đai ngọc đang cất trong n/g/ự/c áo.
Hai mảnh ngọc gãy đã được dùng chỉ bạc nẹp lại.
Vết nứt vẫn còn nguyên đó, những đường gãy ngoằn ngoèo vẫn in hằn trên mặt ngọc, chẳng cách nào xóa đi được.
Nhưng khi hai mảnh được ghép vào nhau, cuối cùng chúng lại tạo thành một vòng tròn hoàn chỉnh.
Trường vô tương vong.
Trọn đời không quên nhau.
Lần này, ta không để nó lại kinh thành nữa.
Đi được nửa đường, ta dừng chân nghỉ tại một quán trà ven đường.
Người hầu quán bưng lên một bát trà thô, thuận miệng bắt chuyện:
"Khách quan từ kinh thành đến sao? Nghe nói bên đó vừa thay hoàng đế mới rồi à?"
Ta nhấp một ngụm trà, khẽ gật đầu.
"Vậy lão hoàng đế trước kia đâu rồi? Cả Hoàn Vương nữa?"
"Đều c/h/ế/t cả rồi."
Người hầu quán trà chép miệng, vẻ mặt chẳng có bao nhiêu kinh ngạc, tựa như chuyện thay đổi người ngồi trên ngai vàng chẳng khác nào một biến cố rất đỗi bình thường trong thời loạn thế.
"Thời buổi này thay hoàng đế còn nhanh hơn thay áo. Dân đen chúng ta chẳng mong gì nhiều, chỉ cầu đừng xảy ra chiến tranh nữa là tốt rồi."
Ta đặt bát trà xuống, nhìn con đường quan vắng người bên ngoài, nhẹ giọng đáp:
"Sẽ không đ/á/n/h nhau nữa đâu."
Ta ngồi ở quán trà đến tận chiều tà.
Ánh nắng dần nghiêng về phía Tây, bóng cây bên đường đổ dài trên mặt đất, từng đoàn người qua lại cũng thưa dần.
Chẳng có người xưa nào đến tìm ta.
Có lẽ cũng chẳng còn cần thiết phải gặp lại nữa.
Ta tung người lên ngựa, hướng về ánh mặt trời phương Nam, một đường rong ruổi.
Phía sau là kinh thành ngày càng xa, dần nhòa khuất trong tầm mắt; phía trước là những cánh đồng bát ngát trải dài đến tận chân trời, những dãy núi chập trùng nối tiếp nhau không thấy điểm cuối.
Ta nhớ đến những năm tháng còn nhỏ, nhớ đến phụ thân, mẫu thân, những huynh tỷ đã khuất, nhớ đến phủ Thừa tướng náo nhiệt trong ngày đại thọ năm ấy.
Ta cũng nhớ đến hai đồng tiền bằng đồng, nhớ đến đôi tay linh hoạt của ông chủ gánh hát và lời dạy mà ông đã vô tình để lại cho một đứa trẻ mười hai tuổi.
Sau tất cả những màn che mắt, những lời dối trá và những cuộc tranh đoạt quyền lực, cuối cùng điều ta mong muốn cũng chẳng còn là vinh hoa phú quý hay một vị trí cao hơn người khác.
Ta chỉ mong những cánh đồng bị chiến tranh tàn phá sẽ lại có người cày cấy, những đứa trẻ lưu lạc sẽ được ăn no, những người dân bình thường sẽ không còn phải vì một tờ chiếu chỉ hay một cuộc tranh quyền mà mất đi tất cả.
Thiên nhật chiêu chiêu.
Trời xanh sáng tỏ, lẽ phải rạng ngời.
Ta thúc ngựa tiến về phía trước, để mặc gió thổi qua vạt áo, cuốn theo bụi đường bay về phía sau.
Từ đó, không một lần ngoảnh đầu nhìn lại.
HẾT TRUYỆN.