Thanh Ngạc ôm quyển sổ mới chạy vào, cười tươi đến mức thấy cả răng: “Cô nương, Lục cô nương nói tiền chia lợi nhuận của phiếu hiệu đã tới. Còn có thư từ Giang Nam, cửa hàng nhỏ của Tần cô nương tháng đầu tiên đã thu hồi được vốn.”
Ta nhận thư, chỉ thấy cuối thư viết một câu: Mưa Giang Nam rơi rất nhẹ, chỉ thêu bán rất chạy, ta sống rất ổn.
Ta gấp thư lại, đặt vào hộp trang điểm.
Ngoài cửa sổ tuyết vừa tan, cành mai đè lên lớp tuyết mỏng, mặt hồ được ánh nắng chiếu đến lấp lánh.
Mười mấy hòm bạc nặng trĩu được xếp ngay ngắn trong kho, chìa khóa đều nằm trong tay ta.
Sau khi nhà cửa của Định Viễn Hầu phủ bị sung công, kinh thành vẫn bàn tán rất lâu.
Có người nói thủ đoạn của ta quá độc, ép phu gia tan cửa nát nhà; cũng có người nói số ta tốt, một cuộc hòa ly vậy mà mang đi mười vạn lượng bạc. Người kể chuyện trong trà lâu thêm mắm dặm muối, biến Hầu phủ thành ổ vàng, biến ta thành độc phụ rắn rết trèo cao.
Lục Hoành nghe được một phen, trở về liền muốn sai người đập quán của tên kể chuyện ấy.
Ta kéo nàng lại.
“Cần gì phải tức giận với bọn họ.”
“Trong miệng bọn họ chẳng có câu nào là thật.” Nàng tức giận đặt lò sưởi tay xuống bàn, “Hầu phủ nợ tiền thuyền phu, chiếm ruộng của tá điền, bọn họ chẳng nói một câu, lại chỉ chăm chăm vào việc nàng lấy bao nhiêu tiền hòa ly.”
“Bởi vì bạc nhìn thấy được, còn nỗi khổ của người khác thì không nhìn thấy.” Ta lật khế thư mới đưa đến, “Nhưng không sao, sổ sách rồi sẽ có người tính.”
Ta dùng tiền hòa ly mua lại căn tổ trạch Chúc gia từng đ.á.n.h mất, lại lấy ra một khoản bạc, theo danh sách bù đủ tiền công còn thiếu cho thuyền phu và tiền thuê đất còn thiếu cho tá điền. Số tiền ấy vốn không nên mục ruỗng trong kho Hầu phủ.
Đầu xuân, trước cổng tổ trạch lại treo lên tấm biển Chúc gia.
Chúc bá đứng dưới bậc thềm, vuốt ve tấm biển, nước mắt già nua rơi đầy. Ông nói nếu phu nhân dưới suối vàng có biết, nhất định sẽ vui mừng.
Ta bảo ông đừng khóc, quay đầu dặn thợ sửa sân trống phía tây thành phòng kế toán. Lục Hoành góp bạc, nói muốn cùng ta mở một cửa hàng chuyên giúp nữ t.ử bảo quản của hồi môn, kiểm kê ruộng đất.
Rất nhiều nữ t.ử lúc xuất giá, ngay cả trong hòm xiểng của mình có những gì cũng không nói rõ được. Phu gia chỉ cần nói một câu “đã là người một nhà, phân biệt gì của nàng của ta”, các nàng liền giao chìa khóa ra, về sau muốn đòi lại, ngay cả sổ sách cũng chẳng tìm thấy.
Ta đã thấy quá nhiều, cũng chịu đủ thiệt thòi như vậy.
Ngày cửa hàng khai trương, trước cửa xếp một hàng dài. Có tân nương ôm sổ hồi môn, có quả phụ nắm c.h.ặ.t khế đất phu quân quá cố để lại, cũng có những phụ nhân bị phu gia đuổi ra ngoài, lặng lẽ hỏi nơi này có thể giúp họ viết một bản văn thư phân gia rõ ràng hay không.
Thanh Ngạc bận đến chân không chạm đất, ngẩng đầu gọi ta: “Cô nương, vị nương t.ử bên phía đông hỏi, nếu nhà chồng nhất quyết cướp của hồi môn thì phải làm sao?”
Ta đặt b.út bên cạnh nghiên mực, ngoắc nàng lại.
“Bảo nàng ấy vào đây. Trước tiên ghi rõ từng món từng món, sau đó dạy nàng ấy phải đi đâu mà cáo trạng.”
Gió hồ xuyên qua khung cửa sổ hé mở, thổi lay chồng khế thư mới trên bàn. Tiếng giấy sột soạt vang lên, tựa như một đàn chim cuối cùng cũng tìm đúng hướng bay.
Chiều tối, Lục Hoành mang đến một vò rượu mơ mới ủ. Nàng chê trong phòng ta có quá nhiều sổ sách, nhất quyết chuyển chồng cao nhất đến bên cửa sổ, rồi nhét chén rượu vào tay ta.
Ngoài tường viện truyền đến tiếng trẻ con đuổi bắt cười đùa, cánh diều của nhà bên mắc trên cành mai, mấy tiểu tư đang trèo thang với lấy. Thanh Ngạc đứng dưới hành lang chỉ huy bọn họ, giọng còn vang hơn bất kỳ ai.
Ta nhấp một ngụm rượu, vị chua ngọt trong trẻo.
Trước kia ở Hầu phủ, đêm nào ta cũng nghĩ ngày mai phải làm thế nào để tất cả mọi người hài lòng. Nay ta chỉ cần nghĩ xem ngày mai nên đi xem sổ sách của cửa hàng nào, hoặc bảo nhà bếp làm một đĩa măng xuân muối mới.
Cuộc sống như thế này, hóa ra còn đáng giá hơn bất kỳ lời tạ lỗi nào của người khác.
Ta khoác áo lông hồ, men theo bờ hồ chậm rãi đi một vòng.
Tuyết đọng bên bờ đã tan, để lộ lớp đất đen ẩm ướt bên dưới. Mấy gốc mai sớm nở rộ, hương thơm theo gió bay rất xa. Thanh Ngạc chạy ra, định bung ô cho ta, ta khoát tay bảo nàng không cần đi theo.
Phía xa, hướng cổng thành vang lên tiếng trống chiều, trầm trầm, từng hồi nối tiếp nhau.
Ta bước qua bậc đá, đế giày dính vài giọt tuyết tan, nhưng chẳng hề cảm thấy lạnh.
Con đường của ta còn rất dài, bạc nằm trong kho, khế thư nằm trên bàn, ngoài cửa vẫn còn rất nhiều việc chờ ta làm.
Ta nhấc chân bước vào khoảng trời vừa sáng vừa tối, bóng mai phía sau bị ánh đèn kéo dài, lặng lẽ rơi trên phiến đá nơi tuyết đang tan.
Tiếng khóc của Hầu phủ, cánh cửa sắt của Chiếu ngục, gương mặt hoảng sợ của Thiệu Hoài Cảnh, tất cả đều bị gió thổi đi thật xa.
Một cánh mai rơi xuống vai ta.
Ta đưa tay phủi đi, tiếp tục bước về phía trước.
Bên hồ có một ông lão bán hạt dẻ rang đường, vừa mở nắp chảo sắt, hơi trắng mang theo hương ngọt đã phả ra.
Ông nhận ra Thanh Ngạc, vội gọi chúng ta nếm thử mẻ hạt dẻ mới rang.
Ta chọn đầy một gói giấy, bảo ông cho thêm một nắm, mang về chia cho những người trong phòng kế toán đang bận đến quay cuồng. Tiền đồng rơi vào hộp gỗ, phát ra tiếng va lanh canh. Gió lướt qua cành mai phía sau, cánh hoa rơi vào gói giấy, dính trên vỏ hạt dẻ.
Ta bóc một hạt dẻ nóng, phần ruột mềm dẻo làm đầu ngón tay đỏ lên vì nóng, tiện tay nhét vào miệng Thanh Ngạc.
Nàng cười mơ hồ, ôm gói giấy đi theo sau ta.
Bóng của hai người trên mặt đất kéo dài thật xa.