Sương sớm lan nhẹ qua bờ ruộng.
Nước suối róc rách chảy xuôi, nông phu xuống đồng gieo hạt, bận rộn với công việc thường ngày.
Bên cạnh một thửa ruộng, một lão bá nhàn tản bày bàn cờ cũ kỹ ra tự đ.á.n.h với chính mình. Mấy đứa trẻ quần áo rách rưới đuổi bắt nhau quanh gốc cây, đùa giỡn ầm ĩ.
Bác nông phu đi ngang qua thấy vậy bèn trêu chọc: "Lão Vương, không phải bảo năm nay bắt đầu cày cấy sao? Ngồi đó mà trồng à?"
Vương Đại Thuận hừ hừ hai tiếng, đắc ý đáp: "Ta ngồi trồng, nhưng vẫn được mùa mới hay!"
Bác nông phu bĩu môi: "Được được được, cứ nhặt bừa đi, cuối cùng cũng để ông nhặt được một người biết làm việc."
Ở bờ ruộng đằng kia, một bóng dáng đang nỗ lực vùi đầu cày cuốc.
Khói lửa chiến tranh dần tàn, tân đế đăng cơ đổi niên hiệu, thiên hạ sơ định, thoắt cái đã qua một khoảng thời gian dài.
Những nương dâu từng bị chiến hỏa giày xéo nay lại phủ lên một màu xanh mướt. Bá tánh lưu ly lục tục trở về quê quán, những ngôi nhà xiêu vẹo được tu bổ lại bằng cỏ tranh và bùn mới. Thôn dã chốn hương thôn rốt cuộc cũng chầm chậm khôi phục lại sự bình yên thuở nào.
Vương Đại Thuận là một kỳ nhân của thôn Cao Nông, một lão quang côn sống sáu mươi năm trên đời, đặc điểm lớn nhất chính là ranh mãnh, lười biếng, keo kiệt và thích tính kế.
Theo lý mà nói, loại người này hẳn sẽ rất bị ghét bỏ, nhưng Vương Đại Thuận thì không hẳn. Bởi vì lão già này tuy keo kiệt, nhưng thỉnh thoảng vẫn làm chút việc thiện. Suốt mấy năm chiến loạn, lão thường xuyên cứu trợ những đứa trẻ mồ côi trong thôn. Mặc dù cả ngày chỉ dạy bọn trẻ cách giở trò gian dối, khôn vặt, chiếm tiện nghi, nhưng ồn ào tới lui cũng chẳng gây ra đại họa gì, nên dân làng cũng đành nhắm mắt làm ngơ.
Lão tổng cộng nhận nuôi năm đứa trẻ. Năm ngoái, lão lại nhặt thêm được một người ở ven thung lũng. Lần này không phải là trẻ con, tuổi đã lớn hơn một chút, trên người mang trọng thương, đầu óc tựa hồ không được tỉnh táo lắm, nhưng cứ để vậy mà cũng sống sót qua khỏi.
Nàng rất ít khi mở miệng nói chuyện, nhưng làm việc thì lại cực kỳ giỏi giang, khiến Vương Đại Thuận mừng quýnh lên. Thửa ruộng bỏ hoang bao năm, đến năm nay rốt cuộc cũng bắt đầu được gieo trồng.
Vương Đại Thuận đ.á.n.h xong một ván cờ, lưng đau nhức dữ dội bèn chuẩn bị về nhà. Lão vừa giơ tay lên, Nhị Thuận đã bắt đầu gom người.
"Đi thôi!" Thằng bé gọi người đang làm việc dưới ruộng, "A Thất! Về nhà thôi!"
A Thất cõng sọt tre đi tới. Nàng lớn tuổi nhất nhưng thứ tự lại xếp nhỏ nhất. Trong đám trẻ này, Lão Tứ và Lão Lục là bé gái, Lão Nhị, Lão Tam và Lão Năm là bé trai. Lớn nhất là Nhị Thuận cũng mới mười bốn tuổi.
A Lục chạy tới kéo tay nàng. Cô bé rất thích A Thất. Từ khi nàng đến, bọn chúng chẳng phải đụng tay vào việc gì, cứ chơi đùa từ sáng đến tối. Hơn nữa A Thất cái gì cũng biết làm, so với pho tượng Thổ Địa vỡ mất nửa thân ở đầu thôn còn linh nghiệm hơn nhiều. Muốn cái gì, chỉ cần nài nỉ nàng một chút là y như rằng sẽ có được.
"A Thất, A Thất, đệ muốn một thanh kiếm gỗ!"
"Muội muốn lông gà rừng!"
"Ngày mai chúng ta ra sông bắt cá đi!"
A Thất nhìn bọn trẻ, gật đầu: "Được."
Cả đám trẻ mừng rỡ khôn xiết.
Kỳ thực, lúc A Thất mới tới, đám trẻ rất bài xích nàng. Bởi vì trong nhà vốn đã nghèo rớt mồng tơi, nay lại có thêm một người lớn há miệng ăn cơm, chẳng phải sẽ càng không đủ chia sao.
Sau đó có một ngày, A Thất thấy bọn chúng đói đến mức đêm khuya gào khóc, bèn một mình ra khỏi nhà. Nàng đi liền hai ngày, lúc trở về thế mà lại săn được một con hươu. Nàng nướng thịt hươu cho bọn trẻ ăn, chỉ một bữa cơm đã đ.á.n.h bay mọi sự thù địch.
Bọn chúng từng hỏi nàng trước kia làm nghề gì, A Thất đáp không biết. Vương Đại Thuận đinh ninh: "Cô trước kia chắc chắn là một thợ săn cừ khôi, thợ săn bình thường đâu có săn được hươu!".
A Thất gật đầu cho là có khả năng. Trong mảng ký ức tàn khuyết của nàng quả thực có bóng dáng một khu rừng sâu. Nàng tựa hồ đã từng sống ở trong núi đó rất lâu.
Ăn bữa tối xong, Vương Đại Thuận bèn triệu tập tất cả bọn chúng lại. Đây là có chuyện lớn muốn tuyên bố.
"Cái lưng già của ta một ngày một kém, phải nghĩ cách gì đó thôi." Lão nheo đôi mắt hí lại, lóe lên vài tia tinh ranh, "Gần đây ta có nghe được một chuyện. Ở thôn Thượng Vinh phía thượng nguồn, có một y quán rất lợi hại."
Nhị Thuận chưng hửng: "Ông nội! Nhà ta đào đâu ra tiền mà xem đại phu!"
Vương Đại Thuận chậc lưỡi một cái: "Ngươi cứ nghe ta nói đã. Y quán này kỳ lạ ở chỗ hình như bọn họ chữa bệnh không lấy tiền! Cho nên danh tiếng mới vang xa như vậy!"
Tam Thuận xoa cằm bình phẩm: "Không lấy tiền? Nghe còn lừa người hơn cả mấy gã đàn ông nói xạo!"
A Tứ cũng phụ họa: "Đúng thế, sao lại có chuyện không cần tiền cơ chứ? Đại phu đó là đồ ngốc chắc?"
Nhắc đến từ "đồ ngốc", cả đám đồng loạt ngoái nhìn sang bên cạnh. A Thất đang tựa lưng vào tường, thẩn thờ nhìn ván cửa lọt gió ngẩn người.
Nhị Thuận lẩm bẩm: "Cũng chưa chắc..." Đánh nhau lâu như vậy, số người phát điên đâu có ít!
Cả bọn chụm đầu bàn bạc nửa ngày xem phải làm thế nào để lấy được sự đồng tình, phải giả vờ đáng thương ra sao. A Thất không để tâm lắm, trong lòng chỉ nghĩ xem mấy ngày tới phải tìm cách hồ lại cái ván cửa hỏng này.
Hai ngày sau, Vương Đại Thuận dẫn theo Nhị Thuận, Tam Thuận và A Tứ xuất phát đi tìm đại phu, để lại A Thất cùng hai đứa nhỏ trông nhà.
Qua thêm mấy ngày, Tam Thuận và A Tứ chạy hớt hải về. A Tứ vừa bước qua cửa đã bắt đầu gào khóc: "A Thất, A Thất! Nhanh cứu ông nội đi!"
A Thất đang dán lại cửa sổ, nghe vậy liền dừng tay, hỏi: "Sao thế?"
Tam Thuận đáp: "Ông nội với Nhị Thuận bị người ta giữ lại rồi!"
Nghe A Tứ kể lại, bọn họ đến y quán ở thôn Thượng Vinh. Đại phu của y quán không có nhà, là học trò của ngài ấy ra xem bệnh, quả thực là không lấy tiền. Bọn họ chữa đau lưng cho Vương Đại Thuận, còn kê cho đơn t.h.u.ố.c.
A Thất hỏi: "Vậy vì sao lại bị giữ người?"
Tam Thuận và A Tứ đưa mắt nhìn nhau, ấp úng đáp: "Thì... Ông nội thấy t.h.u.ố.c của họ rất tốt, sau đó... sau đó... Nhị Thuận cảm thấy đằng nào cũng cất công tới một chuyến rồi, liền... liền..."
A Thất nói trúng tim đen: "Trộm đồ?"
Tam Thuận trợn mắt cãi cố: "Chỉ là cầm một ít thôi, sao gọi là trộm được! Vốn dĩ họ cũng đâu có lấy tiền!"
A Thất lẳng lặng nhìn hai đứa. Bị nhìn chằm chằm hồi lâu, Tam Thuận và A Tứ chột dạ đảo mắt đi chỗ khác.
A Thất hỏi: "Bọn họ định làm gì?"
A Tứ mếu máo thút thít: "Họ bảo phải đợi tiên sinh của họ về rồi sẽ đi báo quan! Lần này tiêu thật rồi! A Thất, tỷ mau nghĩ cách đi!"
A Thất dặn bọn trẻ ở lại trông nhà. Nàng lôi chút thịt thú rừng săn được dạo trước ra chia nhỏ, gói ghém lại cẩn thận rồi mang theo lên đường.
Thời tiết cuối xuân, tiết trời dưới thung lũng có phần mát mẻ hơn những nơi khác. Nàng men theo bờ sông đi ngược lên thượng nguồn. Dưới chân là những hòn đá cuội nhẵn thính bị nước suối cọ rửa quanh năm. Cây cỏ hai bờ đang độ sinh sôi, một mảng xanh non mơn mởn. Gió từ cửa thung lũng thổi tới mang theo hơi thở mát lạnh của dòng nước, phơn phớt lướt qua da mặt vô cùng thanh sảng, chẳng vương chút hanh khô nóng bức nào.
A Thất cứ thế rảo bước, tâm trạng vui vẻ lên hẳn. Thậm chí có khoảnh khắc, nàng đã quên bẵng mất chuyến đi này vốn là để chuộc cặp ông cháu tai quái kia. A Thất cước bộ rất nhanh, trời chưa sáng đã lên đường, giữa trưa đã tới nơi.
Thôn Thượng Vinh có quy mô lớn hơn thôn Cao Nông không ít, nhà cửa san sát nối tiếp nhau trải dài từ sườn núi xuống tận chân núi. Ngay tại cửa ngõ vào thôn có một chỗ nghỉ chân, khách qua đường đều dừng lại đây uống trà nương tạm. Quán trà không lớn nhưng khách khứa ngồi chật ních. Từ nam chí bắc, rất nhiều người vì mộ danh mà lặn lội tới đây tìm Dương đại phu chữa bệnh.
A Thất ngồi trong một góc khuất, nghe người ta bàn tán về vị Dương đại phu này. Họ nói mấy năm trước ngài ấy tới đây dựng lên y sở, chẩn bệnh cho lưu dân tị nạn cùng thương binh. Sau này khi chiến tranh kết thúc ngài cũng không hề rời đi. Giữa chừng ngài ấy từng mắc một trận bạo bệnh, ai nấy đều ngỡ ngài sắp không qua khỏi, nào ngờ sau này lại tịnh dưỡng khỏi bệnh, quả thực là ông trời có mắt.
Trong lời nói của dân làng, ngài quả thực là một vị đại phu tốt, đức cao vọng trọng. Trước đây họ từng định quyên góp tiền đúc tượng cho ngài, bị Dương đại phu biết được liền gạt đi: "Không vội, chờ ta c.h.ế.t rồi hẵng lập."
Nhắc tới chuyện này, trong quán trà lại rộ lên những tràng cười sảng khoái.
Rời khỏi quán trà, A Thất xách theo đồ vật đi về hướng tây của thôn. Đi được nửa đường, nàng lại bất ngờ chạm mặt Vương Đại Thuận và Nhị Thuận.
"A Thất!" Nhị Thuận chạy ùa tới trước mặt nàng.
A Thất hỏi: "Không phải mọi người bị người ta giữ lại rồi sao?"
Nhị Thuận hớn hở đáp: "Họ thả ra rồi!"
Nghe cậu nhóc kể, hóa ra là vị Dương đại phu kia vừa đi lấy t.h.u.ố.c từ nơi khác về, thấy hai ông cháu cũng chẳng lấy bao nhiêu d.ư.ợ.c liệu nên liền cho qua, thả người đi.
A Thất ngạc nhiên: "Cứ thế thôi sao?"
"Ha ha!" Bản thân Nhị Thuận cũng thấy chuyện này thật khó tin, "Ngài ấy bảo hai ông cháu ta đúng là chuột sa chĩnh gạo, vừa ăn vừa khuân! Ha ha ha ha!"
Thật là vẻ vang quá cơ. Nhị Thuận hớn hở nói: "Thật sự không sao rồi!"
Ở bên cạnh, Vương Đại Thuận chắp tay sau lưng, chép chép miệng bình phẩm: "Vị đại phu này không phải người bình thường đâu."
Nhị Thuận xuýt xoa: "Ông nội, biết trước có vị Bồ Tát sống này, chúng ta nên tới sớm một chút mới phải!"
A Thất nhìn cặp ông cháu mặt không đỏ tim không đập này, lẳng lặng không nói gì.
Vương Đại Thuận xua tay, dõng dạc tuyên bố: "Về nhà thôi!"
A Thất bảo: "Mọi người cứ về trước đi."
Nhị Thuận tò mò hỏi: "Tỷ định đi đâu?" Cậu nhóc nhìn thấy bọc đồ trong tay nàng liền nhăn nhó, "Tỷ mang đồ tới chuộc bọn đệ hả? Không cần đưa nữa đâu, mang về nhà đi."
Vương Đại Thuận cũng hùa theo: "Đúng thế, đem về giữ lại mà ăn!"
A Thất nghiêm nghị nhìn hai ông cháu. Bị ánh mắt sắc lẹm của nàng nhìn chòng chọc hồi lâu, cả hai rụt cổ lại vẻ chột dạ.
A Thất trầm giọng: "Hai người cứ về trước, ta sẽ về ngay."
Lương thiện không thể để bị bắt nạt. Nàng ngồi trong quán trà nghe những bậc hiền sĩ qua lại ca ngợi vị Dương đại phu này nhiều như vậy, biết ngài ấy là bậc y giả nhân hậu, không đáng bị phụ bạc. Dù sao cũng chỉ còn một đoạn đường, đích thân tới tạ tội cũng là lẽ đương nhiên.
Y quán nằm ở phía tây của thôn, giáp ranh với rừng sâu núi thẳm.
A Thất đứng ở ngã ba đường nhìn về phía trước. Đó là mấy gian phòng mộc mạc, khoảng sân phía trước được rào lại ngăn nắp, quét tước vô cùng sạch sẽ. Trong khoảng sân trống bên dưới mái hiên, những chiếc nong tre được xếp thành tầng thành lớp phơi đủ loại thảo d.ư.ợ.c đa sắc màu. Phía bên kia sân lại được bài trí thành một khu vườn nhỏ, trồng giống hoa hải đường Tây Phủ mang đậm bản sắc vùng miền. Dưới tán hoa có dựng một ngôi đình gỗ giản dị, chính giữa đặt một bộ bàn ghế đá trơn nhẵn, được mài giũa tới mức bóng loáng nhu nhuận.
Tiểu viện này nhìn qua quả thực được bài trí đan xen cực kỳ tinh tế, vừa thanh nhã lại vừa mộc mạc, mang theo vài phần thú vui phong nhã hoàn toàn không thuộc về cái chốn thôn dã ngoại ô hoang vu này.
A Thất cất bước, chầm chậm tiến về phía khoảnh sân.
Giữa sân có một người đang đứng, dường như đang tỉ mẩn kiểm tra thảo d.ư.ợ.c phơi trong nong tre. Nam t.ử này vận một chiếc trường bào màu xanh bích nhạt, cổ áo và cổ tay lộ ra một viền áo lót trắng muốt vô ngần. Cốt cách cao gầy đoan chính, hai sắc xanh trắng tôn lên vẻ thanh tao thoát tục. Chàng đứng giữa màn hương thảo d.ư.ợ.c và bóng hoa hải đường, đẹp tựa như một bức họa.
A Thất bước tới cổng viện. Cánh cổng gỗ đang khép hờ, hẳn là đang trong giờ nghỉ trưa, tạm thời không tiếp nhận chẩn bệnh.
A Thất hướng về phía bóng lưng kia cất tiếng gọi: "Xin hỏi, Dương đại phu có nhà không?"
Bóng lưng ấy khẽ sững lại, chầm chậm xoay người qua.
Một cơn gió thoảng qua, cuốn theo vài cánh hoa màu hồng nhạt lướt nhẹ qua chiếc bàn đá. Mùi hương thảo d.ư.ợ.c đăng đắng nhè nhẹ hòa quyện cùng hương hoa hải đường thoang thoảng như có như không, xen lẫn hơi thở thanh tịnh chốn non cao, khiến tâm thần con người bỗng chốc trở nên tĩnh tại.
Người nọ đứng sững như tượng, chẳng buồn nhúc nhích. A Thất đành hỏi lại lần nữa: "Xin hỏi vị công t.ử này, Dương đại phu có nhà không?"
Đúng lúc này, một thiếu niên học đồ mặc áo ngắn màu xám than từ trong nhà bước ra, cung kính thưa với vị nam t.ử đang đứng giữa sân: "Tiên sinh, d.ư.ợ.c liệu đã thu dọn xong xuôi, ngài xem có cần..." Hắn nói được một nửa, nương theo tầm mắt của tiên sinh mới nhận ra sự hiện diện của A Thất. Nghĩ nàng đến cầu y, cậu bèn nhắc nhở: "Đang giờ nghỉ trưa, phải tới giờ Mùi ba khắc mới mở cửa chẩn bệnh lại. Cô nương đợi một lát hẵng quay lại nhé."
Nghe thiếu niên kia gọi người nọ là "Tiên sinh", A Thất hơi sửng sốt, thốt lên: "Chàng chính là Dương đại phu sao?"
Trong lòng nàng không khỏi dâng lên niềm kinh ngạc. Lắng nghe dân làng bàn tán, nàng cứ đinh ninh Dương đại phu chí ít cũng phải là một bậc lão niên trạc tuổi Vương Đại Thuận. Nào ngờ ngài ấy lại trẻ trung đến vậy, nhìn qua cũng chỉ khoảng ba mươi tuổi đầu. Hơn nữa... dung mạo và khí chất của người này... Quả thực khiến người ta vừa gặp đã khó lòng quên được.
Tĩnh mịch một lát, Dương đại phu rốt cuộc cũng mở lời, khẽ hỏi: "Nàng... không nhận ra ta sao?"
Giọng nói của chàng thoảng nhẹ tựa thinh không, cũng may đôi tai của A Thất đủ thính nhạy. Nàng bối rối giải thích: "Dương đại phu, đây là lần đầu tiên ta đến đây, cũng không phải để khám bệnh. Vương Đại Thuận ở thôn Cao Nông, chính là vị lão nhân mà lúc nãy ngài vừa thả đi ấy, ông ấy nhờ ta tới đây đền bù chút tiền t.h.u.ố.c cho ngài. Ông ấy..."
A Thất ngừng lời một chút, c.ắ.n răng dằn lòng nói dối: "Ta không phải muốn trốn tránh trách nhiệm, ông ấy và Nhị Thuận thực ra không cố ý ăn cắp đồ đâu. Hoàn cảnh nhà ông ấy quả thực có chút... có chút..."
Càng nói, nàng càng ấp úng không thành lời. Đối diện với một bậc y giả đức cao vọng trọng, nhân hậu trượng nghĩa thế này, thốt ra những lời dối trá quả thực khiến nàng hổ thẹn không chốn dung thân.
Trong khoảnh khắc nàng ngập ngừng, Dương đại phu đã thong thả bước tới gần, ánh mắt đăm đăm đ.á.n.h giá nàng từ đầu chí cuối rất lâu, rất lâu.
Chàng đang nhìn cái gì vậy? A Thất không rõ. Đương nhiên, nàng cũng đáp lại ánh mắt ấy. Dân làng đồn rằng trước đây ngài từng bạo bệnh. Giờ đứng gần nhìn kỹ, quả nhiên qua ánh mắt và sắc mặt có thể nhận ra vài phần dấu vết tàn phá của bệnh tật. Vầng thâm xanh xao dưới mí mắt, những nếp nhăn mờ nhạt, gò má hóp lại tiều tụy, xương chân mày hơi nhô cao. Khắp dáng vẻ đều toát lên tàn tích của chuỗi ngày dài ốm đau trầm kha mới vừa thuyên giảm.
Thế nhưng, khi đôi mắt ấy cuối cùng cũng dừng lại và chạm vào ánh mắt nàng, nét ửng hồng dịu nhẹ tựa đóa hải đường nơi đáy mắt chàng bỗng chốc làm trái tim nàng chua xót, tâm hồn d.a.o động khôn tả. Dường như mọi sương gió quá vãng đều bị ném lại tít tắp phía sau.
"Dương đại phu, ta..." Hàng mi nàng khẽ run rẩy một cách khó hiểu, "Ta có mang theo chút đỉnh đồ vật tới đây..."
Chàng nhẹ giọng đáp lời: "Để ta xem nào."
A Thất cẩn thận mở bọc đồ trên tay ra. Chàng cúi đầu liếc nhìn, khẽ ồ lên: "Thì ra là nhung hươu."
A Thất nhìn món đồ mình mang tới, e dè hỏi: "Không biết chừng này có đủ để đền bù chưa."
"Không đủ." Chàng đáp lại không chút chần chừ.
A Thất ngẩn ra một thoáng, ngước mắt lên, vô cùng nghiêm túc vặn hỏi: "Còn thiếu bao nhiêu nữa?"
"Chuyện này sao..." Chàng khẽ lẩm nhẩm, cũng không vội vàng giải đáp mà bất ngờ chuyển chủ đề, cất lời tự giới thiệu: "Tại hạ Dương Tri Húc. Chẳng hay cô nương xưng hô thế nào?"
"Ta tên là A Thất."
"A Thất cô nương quê quán ở đâu?"
"Ta không biết..." A Thất thành thật giải thích, "Ta được Vương gia gia nhặt về từ dưới thung lũng, chẳng thể nhớ nổi chuyện quá khứ. Gia gia đoán ta có lẽ là một thợ săn? Trú ngụ trong rừng sâu chăng?"
Dương Tri Húc đăm đăm nhìn vào đôi mắt nàng. Một lúc lâu sau, chàng bỗng phụt cười thành tiếng.
"Thợ săn thì cũng đâu có sống trong rừng sâu chứ?"
Khi chàng cười, hàng mi cong cong như vành trăng khuyết, xua đi mấy phần trầm tĩnh, thanh tao lạnh lẽo. Trông chàng tựa như tia nắng mai vừa ló rạng xua tan sương sớm, mang đến hơi ấm râm ran lan tỏa, lại bỗng chốc trở nên hoạt bát và đáng yêu đến lạ.
Khuôn mặt A Thất bất giác nóng bừng, trái tim loạn nhịp đập liên hồi.
Gió lại thổi qua thung lũng thênh thang, cuốn theo chút hương thơm thanh khiết. Nốt ruồi chu sa giữa mi tâm nàng, rực rỡ tựa như nửa giọt đan sa cõi tiên vô tình đ.á.n.h rơi xuống trần thế.
Hốc mắt Dương Tri Húc dâng lên một cỗ nhiệt khí cay xè. Chàng rút từ trong n.g.ự.c ra một chiếc quạt xếp, phe phẩy vài cái để xua đi lệ nóng chực trào. Chàng cất giọng ôn tồn: "A Thất cô nương, nếu nàng thực sự muốn bồi thường tiền, món nợ này e là chúng ta phải từ từ mà tính thôi."
Chàng khẽ nghiêng đầu hướng về gian phòng phía trong viện, mỉm cười dịu dàng buông lời mời: "Lại đây, mượn một bước vào trong để bề bề tường tận."