6.
Vệ Tri Hành cách dăm ba hôm lại đến biệt viện, người gác cổng cứ theo lời ta dặn mà đáp: việc công thì đưa thiếp, việc tư miễn bàn.
Hôm ấy trời mưa lạnh, hắn đứng chắn trước cửa không chịu đi. Trưởng tỷ sợ hắn làm ảnh hưởng giờ tan học của nữ học, bèn sai người mời vào tiền sảnh.
Người hắn ướt sũng, trong lòng lại che chở một gói hạt dẻ.
“A Hành, ta biết sai rồi. Hôm mã cầu ấy, ta không nên sang giúp Tê Nguyệt. Nhưng ta chỉ vì thương hại nàng ấy chứ không có ý gì khác.”
“Huynh có thương hại tỷ ta hay không, không liên quan đến ta.”
Hắn sững người: “Sao lại không liên quan? Cuối năm chúng ta sẽ thành thân rồi mà.”
Ta đẩy hôn thư đến trước mặt hắn.
“Ta đã xin tổ mẫu hoãn hôn. Đợi phụ thân về kinh, ta sẽ chính thức từ hôn.”
Sắc mặt Vệ Tri Hành lập tức trắng bệch. Hắn nắm lấy một góc hôn thư, như nắm lấy sợi dây cuối cùng.
“Chỉ vì một trận mã cầu thôi sao? A Hành, tình nghĩa mười năm của chúng ta còn chẳng bằng một lỗi nhỏ thế này à?”
“Đến giờ huynh vẫn cho rằng đó chỉ là một trận mã cầu.”
Ta đặt tua kiếm màu xanh, dải đội mã cầu và sổ mua ngựa trước mặt hắn.
“Huynh nhận tua kiếm do Liễu Tê Nguyệt tự tay thắt, ta đã nói với huynh về chừng mực. Huynh hứa giữ cánh trái cho ta, đến lúc ra sân lại đổi đội, ta cũng đã nói với huynh về chữ tín. Bây giờ ta còn tra ra con ngựa Chiếu Dạ Bạch kia được mua bằng hai nghìn lượng từ cửa hiệu của ta. Huynh biết là mẫu thân ta mua cho huynh, nhưng chưa từng hỏi số bạc từ đâu mà có.”
Vệ Tri Hành vội nói: “Ta tưởng đó là lễ thành hôn Bùi bá mẫu tặng ta!”
“Mẫu thân của vị hôn thê tặng huynh một con ngựa trị giá hai nghìn lượng, huynh nhận mà vẫn thấy yên lòng. Nếu chuyện này cũng có thể gọi là không biết, chỉ có thể nói huynh vừa tham vừa ngu.”
Sắc mặt hắn xanh trắng đan xen.
Ta tiếp tục nói.
“Quan trọng nhất là mỗi khi lợi ích của ta và Liễu Tê Nguyệt xung đột, huynh lúc nào cũng khuyên ta nhường. Bởi huynh biết tỷ ta sẽ khóc, sẽ nhắc đến thân thế, sẽ khiến huynh cảm thấy mình giống một vị ân nhân cứu khổ cứu nạn; còn ta yêu huynh, ta hiểu chuyện, ta sẽ luôn tha thứ.”
Mắt Vệ Tri Hành đỏ lên: “Sau này ta sẽ không như vậy nữa.”
“Sau này huynh có thay đổi hay không, là chuyện vị cô nương tiếp theo phải phán đoán.”
Ta rút hôn thư về, đứng dậy tiễn khách.
Hắn bỗng nắm lấy cổ tay ta. Ta không nhẫn nhịn, lập tức bẻ ngược ngón tay hắn ra.
“Vệ Tri Hành, đừng chạm vào ta.”
Người gác cổng thông báo, Lục Ký Minh đến đúng giờ theo thiếp hẹn. Chàng cầm một chiếc ô trúc xanh, mang theo văn thư hồi đáp của Đại Lý Tự phê chuẩn khế thư nữ học. Vừa bước vào đã thấy tay Vệ Tri Hành vẫn chắn trước mặt ta, chàng liền dựng ô bên cửa.
“Có cần báo quan không?”
Vệ Tri Hành tức giận nói: “Đây là chuyện riêng giữa ta và vị hôn thê.”
Ta sửa lời hắn: “Hôn ước đợi phụ thân về kinh sẽ hủy. Ở chỗ ta, đã không còn chuyện riêng nào để bàn.”
Lục Ký Minh gật đầu: “Vậy chỉ cần xem Bùi cô nương có muốn gặp ngươi hay không. Nàng ấy đã bảo ngươi đi, ngươi còn dây dưa, ta có thể báo quan.”
Lồng n.g.ự.c Vệ Tri Hành phập phồng vì tức, nhưng lại không đấu khẩu được với chàng. Cuối cùng hắn đặt gói hạt dẻ lên bàn, khàn giọng nói sẽ đợi đến ngày ta hồi tâm chuyển ý.
Sau khi người đi, ta đem hạt dẻ chia cho bọn trẻ trong nữ học. Lục Ký Minh hỏi ta không giữ lại một hạt sao, ta nói hạt dẻ không có lỗi với ta, người đem đến không cần nữa.
Chàng nhìn ta một lúc, lấy từ trong tay áo ra một tấm địa đồ.
“Vậy cô có muốn một con đường mới không?”
Trên địa đồ đ.á.n.h dấu bảy huyện quanh kinh. Gần đây Đại Lý Tự tra ra vải cứu tế bị tráo hàng kém chất lượng, xưởng dệt của nữ học vì hàng hóa chắc chắn nên được chọn làm nhà cung cấp mới. Lục Ký Minh phụng mệnh tuần tra các kho dọc đường, trưởng tỷ cũng muốn dẫn học sinh đi xem nghề dệt và sinh kế của nữ t.ử ở các huyện.
Chàng đến hỏi ta có muốn đi cùng không, phụ trách kiểm sổ và mua hàng.
Bên dưới địa đồ là một tờ thư mời, tiền công, trách nhiệm và thời hạn đều ghi rõ ràng. Ta không cần nương nhờ ai, cũng không nợ ân tình của bất kỳ người nào.
Ta nhận lấy địa đồ: “Bao giờ khởi hành?”
“Sáng ngày kia.”
“Được. Ta kịp. Tối mai ta bàn giao sổ sách trong kinh.”
Trong mắt Lục Ký Minh thoáng hiện ý cười: “Bùi chưởng quầy, hợp tác vui vẻ.”
6.
Ngày rời kinh, trời cao mây rộng.
Ta cưỡi con ngựa táo đỏ của mình, trưởng tỷ dẫn học sinh nữ học ngồi xe, Lục Ký Minh dẫn sai dịch Đại Lý Tự đi sau. Khi ra khỏi thành, bánh xe nghiền qua lớp sương mỏng buổi sớm, ta chỉ nghĩ phải tra cho rõ khoản sổ nát của kho quan, không ngờ dọc đường lại gặp nhiều bàn tay chìa khế thư ra trước mặt đến vậy.
Đến huyện đầu tiên, chúng ta phát hiện vải trong kho quan đủ số, sổ sách cũng không có vấn đề, nhưng các nữ nhân dệt vải trong thôn vẫn nghèo đến mức không nộp nổi thuế.
Ta chuyển vào hậu viện xưởng dệt, ăn ở cùng họ, dần dần nắm rõ thủ đoạn của đám thương nhân vải. Chúng lấy cớ “nữ t.ử không biết tính toán” làm bình phong, lúc đo vải thì giấu bớt một đoạn thước vào tay áo, lại mang danh nghĩa kho quan nghiệm hàng ra dọa người. Các nữ dệt không dám trực tiếp giao hàng cho kho quan, vải dệt nhọc công, qua tay một lần là bị ép thấp giá một phần.
Lục Ký Minh hỏi ta: “Theo luật xử phạt đám thương nhân vải, chuyện này coi như xong sao?”
Ta lắc đầu: “Đổi một nhóm thương nhân khác, năm sau vẫn sẽ như vậy.”
Trưởng tỷ để ta tự nghĩ cách.
Ta dựng một chiếc bàn dài trước cửa nha môn, bên trái dạy người dùng thước, nhận biết khế thư, bên phải trực tiếp thu vải. Mỗi cây vải đều đo đạc, phân hạng, đăng ký ngay trước mặt mọi người, nữ dệt giữ một tờ biên nhận, huyện nha và nhà cung hàng mỗi bên lưu một bản.
Ban đầu không ai dám đến. Đám thương nhân ôm tay đứng bên góc phố, cười rằng chúng ta chẳng chống nổi đến giờ Ngọ.
Đến lúc sắp dọn bàn, một quả phụ tóc mai đã bạc ôm đến nửa cây vải thô. Bà không biết chữ, ngón tay cái cứ chà đi chà lại lên vạt áo, rồi mới chấm mực son điểm chỉ. Ta đếm rõ số tiền phải trả trước mặt bà, giá công bằng hơn thương nhân, tính cả phí vận chuyển cũng không vượt quá giá kho quan thu mua.