Bên trong khênh ra t.h.i t.h.ể của mấy tên thái giám và cung nữ.
Có một lão cung nữ, trên cổ và cổ tay chi chít vết d.a.o cắt, khi khênh ra hai mắt vẫn trợn ngược.
Nghe người ta nói người này đã không cứu nổi nữa, c.h.ế.t không nhắm mắt.
Lại nghe đồn Nhu Trùng nghi có thể cầm cự được mười ngày qua là nhờ cắt m.á.u của vị lão cung nữ này để uống.
Dù sao Nhu Trùng nghi cũng là người có thân phận, có thể coi mạng người như cỏ rác để kéo dài hơi tàn, chỉ tội nghiệp cho đám hạ nhân bên dưới.
Kẻ không có gì ăn thì phải nhai rễ cỏ, người không có nước uống thì hứng nước bẩn trên nền đất hay uống chính nước tiểu của mình.
Có kẻ chịu không thấu, chẳng biết ngày tháng khổ ải này bao giờ mới chấm dứt, bèn treo cổ tự vẫn một cách im lìm.
Hoàng thượng đến một câu cũng không thèm hỏi xem Nhu Trùng nghi ra sao.
Hắn chỉ bảo vị lão cung nữ kia một lòng hộ chủ, hữu tình hữu nghĩa, là ân nhân của Nhu Trùng nghi.
Thế là hắn sai người bọc xác khênh thẳng đến Hải phủ, lệnh cho Hải đại nhân phải hậu táng, lại bắt con cháu Hải gia phải dập đầu trước linh cữu để tạ ơn cái tình với Hải gia.
Danh nghĩa là "hậu táng", "tạ ơn", nhưng thực chất là tát thẳng vào mặt Hải đại nhân.
Một cái tát vừa đau vừa hiểm.
Ngày hai mươi tám tháng chín, thành Hồ Lan ở phía Tây Bắc bất ổn đã một thời gian.
Hoàng thượng theo sát các mật báo hỏa tốc gửi về mà thao thức thâu đêm suốt sáng.
Cuối cùng, vào một đêm đông sương lạnh mịt mùng, hắn đã triệu tập mấy vị đại thần rường cột quốc gia vào triều, mưu tính suốt nửa đêm và quyết định xuất binh.
Thượng thư bộ Binh Hầu đại nhân lúc này chẳng còn tâm trí đâu mà xúi giục người ta dâng sớ thỉnh phong Nghi Quý phi làm Hoàng quý phi nữa.
Bởi lẽ, người lĩnh binh ra trận chính là đứa con trai độc nhất, là khúc ruột của ông ta — Hầu Uyên Di.
Vị công t.ử Hầu gia này là một nhân vật lẫy lừng. Năm xưa, hắn từng là bậc ngọc diện tiêu lang khiến bao thiếu nữ trong kinh thành phải si mê, điên đảo.
Từ nhỏ hắn đã khôi ngô tuấn tú, lại lập được không ít chiến công, rất được tiên đế tán thưởng.
Hắn vừa là con trai của quyền thần trong triều, vừa là em vợ của đương kim Thánh thượng.
Chỉ tiếc năm mười tám tuổi lần đầu ra chiến trường, hắn suýt nữa đã không thể trở về.
May mắn thay, trong cái c.h.ế.t tìm thấy đường sống, hắn được một thuộc hạ trung thành tuyệt đối lấy thân đỡ tiễn, rồi trốn dưới đống x.á.c c.h.ế.t mới thoát được một kiếp nạn.
Thế nhưng, gương mặt mày kiếm mắt tinh khôi ngô thuở nào đã bị hủy hoại, cánh tay trái cũng không bao giờ có thể vung kiếm được nữa.
Sau khi trở về kinh thành, Hầu công t.ử chịu đả kích rất lớn.
Dù vẫn nghe theo lệnh cha mẹ và lời mai mối mà cưới một người vợ môn đăng hộ đối, nhưng từ đó về sau hắn hiếm khi về nhà, chỉ một mực lưu luyến nơi sa trường, mang theo vết thương mới chồng chất lên vết thương cũ để mở rộng bờ cõi.
Người vợ kia ở trong Hầu phủ không biết là vì u uất hay chịu tủi nhục gì, chưa gặp phu quân được mấy lần đã lâm bệnh nặng rồi qua đời.
Hầu Uyên Di từ đó lại càng như nghiện đ.á.n.h trận, chiến công hiển hách.
Chỉ là cơ thể tích tụ quá nhiều thương bệnh, gân cốt ngày một suy sụp, khiến Hầu Thượng thư vô cùng lo âu.
Hoàng thượng không phải là kẻ vô lương tâm, hắn ban thưởng cho Hầu Uyên Di không ít.
Lần này hắn còn hào hùng tuyên bố, nếu Hầu Uyên Di khải hoàn trở về, hắn sẽ phong tỷ tỷ của Hầu Uyên Di làm Hoàng quý phi để biểu dương lòng trung thành của Hầu gia, cũng là để xoa dịu nỗi lòng của Hầu đại nhân.
Trách sao vị Thượng thư bộ Binh này trong lòng đầy mâu thuẫn, vừa mong con trai lập thêm chiến công, lại vừa sợ con mình có bề gì trắc trở.
Bên kia Hầu Uyên Di đang chỉnh đốn trang bị chuẩn bị xuất phát, thì bên này trong hậu cung Nghi Quý phi đã bệnh liệt giường.
Nghe nói trận bệnh này là do quỳ ở ngoài điện Trường Tín mà ra.
Biết tin đệ đệ mình phải lĩnh binh đi thành Hồ Lan, Nghi Quý phi đã quỳ suốt một đêm ngoài điện Trường Tín, mà cửa điện Trường Tín cũng đóng c.h.ặ.t suốt một đêm.
Sáng sớm ngày thứ hai, một tờ chiếu thư được đưa ra từ trong điện Trường Tín.
Nghi Quý phi chặn đường Vệ công công đang đi truyền chiếu, nhưng chỉ nhận lại một câu lạnh lùng từ ông ta:
"Xin Quý phi về cho, lão nô còn đang vội đến Thượng thư phủ truyền chỉ".
Mọi sự đã thành định cục, Nghi Quý phi tối sầm mặt mày, được người ta khênh về cung Thừa Hoa.
Thế nhưng từ đó cung Thừa Hoa lại càng thêm náo nhiệt.
Ai nấy đều biết Hoài Hóa đại tướng quân Hầu Uyên Di trăm trận trăm thắng lại đi lập công kiến nghiệp rồi.
Chỉ đợi lần này thắng lợi như thường lệ trở về, Nghi Quý phi sẽ thực sự trở thành người đứng đầu lục cung, đến cả Vinh phi cũng không cách nào vượt mặt được nữa.
Nhân lúc Nghi Quý phi đổ bệnh, chính là thời cơ tốt nhất để nịnh bợ, lấy lòng. Đám nữ nhân giỏi nhìn sắc mặt đo đoán tâm tư này làm sao chịu bỏ qua.
Bản thân ta đương nhiên là không muốn đi góp vui vào cái trò này, Dẫn Diên đã thúc giục ta mấy lần, nhưng ta chỉ cảm thấy chuyện này thật mâu thuẫn.
Ta đến đó để làm gì cơ chứ?
Chăm sóc nàng ấy à? Ta chân tay vụng về, sao sánh bằng đám cung nữ được huấn luyện bài bản kia.
Quỳ bên giường à? Gom một lũ người nhét đầy trong phòng chẳng phải càng làm người bệnh ngột ngạt không thở nổi sao.
Chọc tức nàng ấy à? Cái đó thì ta càng không bằng Vinh phi được.
Nghĩ đi nghĩ lại, ta thực sự thấy Nghi Quý phi thật đáng thương.
Trong lòng đã phiền muộn đến cực điểm rồi, vậy mà ngày ngày còn phải chịu đựng một lũ đàn bà "mèo khóc chuột" gào khóc bên tai.
Đây chính là cái khổ của kẻ làm Quý phi đấy.
Trong ngần ấy con người, Phùng Tiệp dư là kẻ thể hiện tích cực nhất, cũng là kẻ nhảy nhót hăng hái nhất.
Chỉ riêng chỗ ta thôi mà nàng ta đã đến tận ba lần, hết lời mỉa mai châm chọc lại đến áp đặt đạo đức, bảo ta bất kính với Nghi Quý phi, cậy có ba phần sủng ái mà không phân biệt tôn ti, không có lòng hiếu kính, đến cả việc sang cung Thừa Hoa quỳ an cũng không biết đường mà làm.
Vốn dĩ ta định vặn hỏi lại nàng ta rằng có thời gian rảnh rỗi đến dạy đời ta, sao nàng ta không tự đi mà quỳ đi.