“Bất kể mười năm hay hai mươi năm.”

Khi ấy ta mới tám tuổi, hoàn toàn không hiểu người đang nói gì.

Ta chỉ nhớ ánh mắt cuối cùng của người nhìn về phía cửa.

Không phải sợ c.h.ế.t.

Mà là sợ người sắp đẩy cửa bước vào.

Người đẩy cửa bước vào chính là nghĩa phụ.

Ông ta mặc quan phục đỏ tím, cười như một pho Di Lặc, trong tay cầm một đạo thánh chỉ.

Ông ta nói:

“Thẩm tướng quân vì nước hy sinh, bệ hạ vô cùng đau lòng.”

“Tri Vi, sau này nghĩa phụ nuôi con.”

Bàn tay cha dưới chăn siết c.h.ặ.t cổ tay ta.

Móng tay người cắm sâu vào da thịt.

Người đang dùng chút sức lực cuối cùng để nói với ta:

Đừng tin người này.

Nhưng khi ấy ta còn quá nhỏ, chỉ biết khóc.

“Cô nương?”

Giọng Thiết Hoa kéo ta về hiện thực:

“Sao cô lại khóc?”

Ta đưa tay sờ mặt, mới phát hiện nước mắt đã giàn giụa.

Ta cúi đầu nhìn miếng ngọc hình chim ưng trong lòng bàn tay.

Nó được nhiệt độ cơ thể ta ủ đến nóng bỏng, đường vân cánh chim ưng tỏa ánh sáng u tối dưới trăng.

Cha, cha để lại miếng ngọc này cho con, có phải đã sớm biết sẽ có ngày hôm nay hay không?

Dưới lầu truyền tới tiếng quát tháo của nha dịch và tiếng khóc lóc của thư sinh.

Không ai quan tâm nữ t.ử kia vẫn đang mở mắt.

Ta xoay người trở lại trước bàn, ấn mạnh miếng ngọc lên nửa tờ giấy.

Cạnh ngọc cứa rách lòng bàn tay ta.

Máu chảy ra, thấm ướt dấu vuốt chim ưng ở mặt sau tờ giấy.

Đột nhiên, trên giấy nổi lên một hàng chữ cực nhạt:

“Hoàng lăng phía đông kinh thành, dưới bia không chữ.”

“Cứu người chính là cứu mình, lấy việc nổ núi làm hiệu.”

Tim ta đột ngột ngừng đập.

Hoàng lăng phía đông kinh thành.

Cứu người.

Cứu ai?

Hóa ra tấm bia ở đó.

“Thiết Hoa.”

Ta ngẩng đầu nhìn màn đêm đen kịt ngoài cửa sổ:

“Ngày mai đi phía đông kinh thành.”

“Làm gì?”

“Thăm dò hoàng lăng.”

Ta siết c.h.ặ.t tờ giấy nhuốm m.á.u:

“Tìm tấm bia cha ta để lại.”

Thiết Hoa xách đao, nhe răng cười:

“Cô nương đi đâu, ta đi đó.”

Ta nhìn ra ngoài cửa sổ.

Dưới lầu, t.h.i t.h.ể nữ t.ử kia đã bị kéo đi.

Trên mặt tuyết chỉ còn một vệt đỏ sẫm kéo dài, giống như một con đường ngoằn ngoèo.

“Cha, ván cờ người bày, con nhận.”

07

Hoàng lăng phía đông kinh thành, giờ Tý ba khắc.

Thiết Hoa cõng trên lưng gói giấy dầu do Truy Phong Môn đưa tới.

Bên trong có ba ống “địa long” cùng một tấm bản đồ bố phòng hoàng lăng.

Tin tức tốn một trăm lượng, t.h.u.ố.c nổ tốn hai trăm lượng.

Lão già kia nhận tiền, chỉ nói thêm một câu:

“Khe núi phía sau, dưới bia không chữ, có đáp án cô muốn.”

“Cô nương.”

Thiết Hoa leo lên khe núi, quay tay kéo ta, giọng ép xuống cực thấp:

“Bản đồ bố phòng nói thị vệ cứ nửa canh giờ tuần tra một lần.”

“Hiện tại chỉ còn thời gian một nén hương.”

Ta trèo qua khe núi.

Mùi ẩm mốc hòa cùng mùi m.á.u ập thẳng vào mặt.

Sau đó ta nhìn thấy.

Trong những căn lều tạm chen chúc đầy người.

Không phải t.h.i t.h.ể.

Là người sống.

Ba nghìn người sống, gầy đến chỉ còn da bọc xương, cổ chân bị xích sắt khóa c.h.ặ.t.

Bọn họ mặc quân phục Thẩm gia quân đã rách nát.

Chữ “Thẩm” trên áo đã bị bàn ủi nung đỏ đốt thành chữ “tù”.

Một lão binh ngẩng đầu nhìn thấy ta, đôi mắt đục ngầu bỗng bùng lên ánh sáng.

Ông mở miệng, nhưng cổ họng đã bị độc làm câm, chỉ phát ra được tiếng thở “khò khè”.

Ông dùng ngón tay nứt nẻ vì lạnh viết lên mặt tuyết:

“Tướng… quân…”

Tim ta như bị b.úa nặng giáng xuống.

“Thiết Trụ thúc?”

Thiết Hoa đột nhiên run giọng gọi.

Trong góc, một nam nhân gầy đến biến dạng ngẩng đầu.

Trên mặt ông có một vết sẹo kéo dài từ giữa mày đến khóe miệng.

Ông nhìn thấy Thiết Hoa, lại nhìn miếng ngọc trước cổ ta.

Đôi môi run rẩy hồi lâu, sau đó đột ngột quỳ sụp xuống đất, trán nện lên nền đất đóng băng phát ra tiếng trầm đục.

“Thẩm… Thẩm gia quân…”

“Tả doanh…”

“Trương Thiết Trụ…”

Cổ họng ông đã hỏng, từng chữ như bị mài ra từ giấy nhám:

“Bái kiến… thiếu chủ…”

Bên cạnh ông, một tiểu cô nương gầy nhỏ chừng mười hai, mười ba tuổi đang dùng ngón tay nứt nẻ bện dây cỏ.

Nàng ngẩng đầu nhìn ta, đôi mắt sáng như hai viên đá đen.

“Đây là con gái ta, Tiểu Mãn.”

Giọng Trương Thiết Trụ khàn đặc:

“Tướng quân từng nói, con cháu Thẩm gia quân phải tận mắt nhìn thấy thiếu chủ trở về.”

Sau lưng ông, ba nghìn đôi mắt đồng loạt nhìn sang.

Không ai hô, cũng không ai khóc.

Chỉ có tiếng xích sắt va nhau rất khẽ, cùng tiếng thở đã bị đè nén suốt mười năm.

Ta ngồi xổm xuống, nắm lấy bàn tay lạnh băng của Trương Thiết Trụ.

Lòng bàn tay ông toàn vết chai và vết nứt, giống như đang nắm một vốc đá vụn.

“Thiết Trụ thúc.”

Giọng ta run rẩy, nhưng vẫn cố không để nước mắt rơi xuống:

“Cha ta… đã khiến mọi người chờ bao lâu?”

“Mười năm… lẻ bốn tháng…”

Trương Thiết Trụ ngẩng đầu, hốc mắt đỏ bừng:

“Tướng quân nói… sẽ có người tới…”

“Hoặc đón chúng ta về nhà…”

“Hoặc… nhặt xác cho chúng ta…”

Ông đột nhiên siết c.h.ặ.t cổ tay ta, lực tay lớn đến mức như muốn bóp nát xương:

“Thiếu chủ…”

“Người tới rồi…”

“Người thật sự đã tới…”

Thiết Hoa đứng sau lưng ta, sống lưng căng như dây cung, mắt hổ mở to.

Nước mắt đảo ba vòng trong hốc mắt nhưng vẫn bị nàng cố nén lại.

“Cô nương.”

Nàng khàn giọng chỉ về nơi sâu nhất trong khe núi:

“Tấm bia.”

Đó là một tấm bia không chữ.

Nó đứng dưới vách núi, trên bia không có tên, chỉ có một vết tên.

Đó là vết tên do cha tự mình b.ắ.n khi bình định Bắc Cảnh năm xưa.

Mũi tên cắm sâu vào đá ba tấc.

Mười năm gió tuyết, dấu vết vẫn còn nguyên.

Phía dưới chân bia có một rãnh lõm hình chim ưng.

Ta lấy miếng ngọc ra, vừa định bước tới thì phía sau bỗng truyền đến giọng nghĩa phụ, giống như rắn độc đang thè lưỡi:

“Thẩm Tri Vi!”

Ta đột ngột quay đầu.

08

Đuốc quanh khe núi lần lượt sáng lên.

Nghĩa phụ từ đường núi phía đông bước ra, quan phục đỏ tím bị gió thổi phồng.

7 - Ưng Cốt - Đọc truyện ngôn tình tổng tài bá đạo miễn phí | Lão Phật Gia