Không hiểu vì sao, ánh mắt Vãn Đường nhìn huynh ấy có chút xa cách.
Không giống nhìn huynh trưởng, ngược lại giống như đang nhìn một di vật phụ mẫu để lại.
Huynh ấy cố ý bỏ qua cảm giác khó chịu đó, vội vàng đưa hộp gấm ra, nhẹ giọng nói:
“A huynh… A huynh đã sửa xong rồi.”
“Muội xem.”
Vãn Đường cúi mắt, nhìn thấy bộ kim gỗ từng bị huynh ấy bẻ gãy.
Nhưng nàng không hề kích động, ngay cả đuôi mày cũng không nhướng lên.
Ánh mắt chỉ dừng lại trong chốc lát, Vãn Đường liền dời đi, bình thản kể lại:
“Đó là đồ trẻ con chơi.”
“Muội đã lớn rồi.”
Nói xong, nàng quay người vào phòng.
Ôn Triệt đột nhiên cảm thấy hộp gấm trong tay nặng tựa ngàn cân.
Yết hầu huynh ấy chuyển động, giọng nói hạ xuống thật khẽ:
“Vậy hai ngày sau, huynh trưởng đến cõng muội xuất giá trước, được không?”
Vãn Đường dường như đang kiểm kê của hồi môn trong rương, thuận miệng đáp:
“Không sao, đưa tiểu muội đi trước đi.”
Ôn Triệt lập tức thở phào nhẹ nhõm.
May quá.
Vẫn là Vãn Đường luôn đặt người nhà trong lòng.
Vì thế, Ôn Triệt mỉm cười:
“Được.”
“Vãn Đường không hổ là tỷ tỷ, hiểu chuyện hơn nhiều.”
“Không giống tiểu muội, vừa rồi còn làm loạn, nói mình sợ hãi, muốn xuất giá trước.”
Động tác thu dọn hành lý của Vãn Đường khựng lại, nàng nhẹ giọng nói:
“Nàng còn nhỏ, đương nhiên sẽ sợ.”
“Sau khi xuất giá, việc ở chung với tỷ muội và phu quân đều phải làm phiền a huynh hao tâm.”
Ôn Triệt không quá để ý:
“Đã có muội rồi.”
Phần cuối câu nói bị tiếng di chuyển rương đồ lấn át.
Vãn Đường dường như không nghe rõ, không trả lời.
Nhưng Ôn Triệt rốt cuộc cũng yên tâm.
Vì thế, hai ngày sau đó, huynh ấy bận viết trần tình biểu thay Thái t.ử điện hạ, cầu xin bệ hạ thương xót.
Mãi đến đêm trước tân hôn mới sai người dâng tấu sớ lên.
Ôn Triệt thở ra một hơi nặng nề, đứng trong sân dưới ánh trăng tròn, cười thật sâu:
“Cha, nương, Vãn Đường và tiểu muội đều sắp xuất giá.”
“Hai người có thể yên tâm rồi.”
Ngày hôm sau, huynh ấy chỉnh trang dung mạo trước gương đồng, còn cài hoa lê Vãn Đường yêu thích trước n.g.ự.c.
Sau khi cõng tiểu muội xong, huynh ấy vội vàng đến đón Vãn Đường.
Nhưng khi đẩy cửa ra, căn phòng rộng lớn không có một bóng người.
Chỉ có một bức thư đặt trên bàn gỗ đàn hương, bị gió thổi nhấc lên một góc.
Chân Ôn Triệt như mọc rễ, khó khăn bước tới.
Đến gần, huynh ấy nhìn rõ cây trâm vàng.
Vãn Đường viết:
“Đây là cây trâm vàng mẫu thân để lại, xin tặng tiểu muội làm đồ bồi giá.”
“Chúc tiểu muội quãng đời còn lại cầm sắt hòa minh, tuế tuế bình an.”
Ngoài cửa, Bùi Lãng đang nhận lời chúc mừng của đồng liêu:
“Một thê hiền lương, một thê xinh đẹp.”
“Bùi đại nhân quả thật được hưởng phúc Tề nhân.”
Khóe môi Bùi Lãng không kiềm được mà cong lên.
Thật ra hắn không hẳn động lòng với Ôn tiểu muội.
Ban đầu chỉ vì nàng là muội muội của Vãn Đường nên chăm sóc thêm vài phần.
Về sau, Ôn tiểu muội ngày càng xinh đẹp diễm lệ, cả Thịnh Kinh đều muốn được gần gũi mỹ nhân.
Đồng liêu thường nói:
“Nếu người trong lòng của ngươi có được dung mạo như tiểu muội nàng ấy, vậy thì thật sự không còn gì để chê.”
Bùi Lãng nghe nhiều, dần dần cũng sinh ra vài phần tham niệm.
Giờ đây tham niệm đã thành hiện thực, Bùi Lãng lại cảm thấy cũng chỉ có vậy.
Hắn nhìn hai cỗ kiệu hoa.
Một cỗ đang ngồi mỹ nhân, một cỗ đang chờ người hắn yêu nhất.
Miệng nói sẽ đối xử công bằng, nhưng trong lòng Bùi Lãng vẫn có chút thiên vị.
Cỗ kiệu hắn chuẩn bị cho Vãn Đường xa hoa hơn một chút, hoa tươi cũng nhiều hơn một chút.
Nhưng nghĩ đến những năm qua Ôn Triệt luôn thiên vị Ôn tiểu muội, hắn lại thản nhiên.
Vãn Đường của hắn vốn xứng đáng với mọi thứ tốt đẹp nhất.
Nhưng Bùi Lãng ngồi trên lưng ngựa cao lớn, đợi thật lâu.
Đợi đến lúc giờ lành sắp qua, Ôn Triệt vẫn chưa cõng Vãn Đường ra ngoài.
“Chuyện gì vậy?”
“Chẳng lẽ Ôn Triệt lại giở trò gì?”
Hắn nhíu mày, đang định xuống ngựa, lại thấy Ôn Triệt hoảng loạn chạy ra.
Ngay cả hoa lê trước n.g.ự.c cũng rơi mất nửa đóa.
Huynh ấy túm lấy hộ viện, hỏi:
“Vãn Đường có ra khỏi phủ không?”
Bùi Lãng sửng sốt.
Trong lòng giống như bị vô số kim vàng đ.â.m chi chít.
Giọng hắn run rẩy:
“Ôn Triệt.”
“Vãn Đường của ta đâu?”
11
Ta đã chuẩn bị đầy đủ mọi thứ.
Nhưng có lẽ vì đường sá xa xôi mệt nhọc, sau khi đến Biện Lương, ta bị một trận rét nàng Bân thổi đến phát bệnh.
Hoắc Hoài Cẩn còn sốt ruột hơn ta, không ngừng hỏi:
“Có phải không hợp thủy thổ không?”
“Ta đến miếu Thổ Địa xin một ít tro hương.”
“Cần d.ư.ợ.c liệu gì, cứ kê loại đắt nhất, tốt nhất.”
“Nhiệt độ trong phòng có thấp không?”
“Ta mang thêm hai chậu than tới.”
Đã sắp vào hè.
Nữ y đang bắt mạch cho ta lau mồ hôi, bất đắc dĩ nói:
“Ta đến còn chưa được nửa khắc.”
“Cho dù ta là Hoa Đà, cũng phải bắt mạch xong mới biết nguyên nhân.”
Hoắc Hoài Cẩn buồn bã “ừ” một tiếng, cuối cùng cũng yên tĩnh.
Thật lâu sau, nữ y thu tay, đưa ra kết luận:
“Uất kết thành bệnh, vừa đúng lúc gặp rét nàng Bân.”
Nàng trải giấy ra, ung dung viết đơn t.h.u.ố.c, thuận miệng an ủi:
“Trong họa có phúc.”
“Sau khi trận gió này thổi qua, cô nương có lẽ sẽ nhìn thấy một vùng trời khác.”
Gió hè phất qua, hàng liễu bên bờ đê mềm mại lay động.
Dưới ánh nắng ấm áp, ta mím đôi môi khô khốc, lúc này mới nhận ra trái tim mình từ lâu đã bị nhốt trong mùi mực của thư thục.
Hoặc có lẽ, từ thuở nhỏ nó đã bị nhốt trong chiếc bát ta lỡ tay làm vỡ.
May thay, ta có thể thuận theo lòng mình mà hỏi:
“Ta cũng có thể học y sao?”