Sau khi ta bị mù, Nguyên Sơn ôm ta vào lòng, khóc đến đau đớn tột cùng.
Hắn quỳ ngoài cửa cung, dập đầu ba quỳ chín lạy, khẩn cầu Thánh Thượng nghiêm trị Luật Vương.
Luật Vương và Hoàng đế là huynh đệ cùng mẹ sinh ra. Tuy từng nảy sinh hiềm khích trong cuộc tranh đoạt ngôi vị, nhưng suy cho cùng vẫn là tình thân ruột thịt.
Ban đầu, Hoàng thượng định khoan dung cho qua chuyện.
Nhưng Triệu Nguyên Sơn nhất quyết không chịu nhượng bộ, kiên trì đòi lại công bằng cho ta và yêu cầu Luật Vương phải trả giá.
Cuối cùng, Hoàng đế hạ chỉ, chuyển phong địa của Luật Vương từ vùng Châu Bội phồn hoa đến Thôi Châu kém phát triển hơn hẳn, coi đó là lời cảnh cáo dành cho những kẻ khác.
Cũng bởi chuyện này, Triệu Nguyên Sơn mất đi sự sủng tín của Hoàng đế. Từ đó về sau, hắn mãi dậm chân ở chức phó tướng, không thể tiến thêm nửa bước.
Ta luôn cảm thấy áy náy vì chuyện ấy.
Thế nhưng, Nguyên Sơn chỉ cười bảo không sao. Trong mắt hắn, quyền thế và phú quý đều chẳng thể sánh bằng ta.
Sau đó, chúng ta thành thân.
Kể từ ngày thành hôn, Triệu Nguyên Sơn luôn chăm sóc ta chu đáo hết mực.
Vì bị mù nên ta không muốn ra ngoài. Mỗi khi không phải vào triều, hắn đều ở nhà bầu bạn với ta.
Năm thứ hai sau hôn lễ, phụ thân và đệ đệ ta dẫn thương đoàn đến Mạc Bắc buôn bán da thú. Không may gặp phải đạo tặc, cả hai đều bỏ mạng nơi đất khách quê người.
Triệu Nguyên Sơn thay ta lo liệu hậu sự cho phụ thân và đệ đệ.
Từ đó, ta không còn người thân nào trên đời. Nguyên Sơn càng ra sức chăm sóc ta, không nỡ để ta phải chịu dù chỉ một chút ấm ức.
Ba ngày trước, một tên cường đạo khét tiếng xuất hiện ở kinh thành. Triệu Nguyên Sơn bận rộn truy bắt hắn nên liên tục không về phủ.
Ta đoán người của phủ Tấn An hầu đã lợi dụng khoảng thời gian hắn vắng nhà để đưa ta đi.
“Vân Hoàn, nàng thấy trong người thế nào?”
Triệu Nguyên Sơn nắm lấy tay ta. Trên mặt hắn hiện rõ vẻ quan tâm xen lẫn áy náy.
“Là ta không tốt. Nếu không phải ta nhiều ngày liền không về nhà thì nàng đã chẳng bị kinh hãi đến mức này.”
Hắn phất tay ra hiệu cho Tuệ Nhi lui xuống.
Tuệ Nhi vén váy hành lễ rồi nhẹ nhàng rời khỏi phòng.
Ta nhìn hắn, mỉm cười đáp:
“Nguyên Sơn, ta không sao.”
“Nếu không nhờ biến cố này thì có lẽ ta cũng chẳng được hưởng phúc trong họa.”
Triệu Nguyên Sơn ngạc nhiên hỏi:
“Phúc trong họa? Nàng nói vậy là có ý gì?”
Ta vốn định nói cho hắn biết đôi mắt mình đã sáng trở lại.
Thế nhưng, khóe mắt ta chợt liếc thấy bên dưới rèm cửa có một đôi hài màu xám xanh.
Trên mũi hài thêu hai hạt châu đỏ. Đó chính là đôi hài ta ban thưởng cho Tuệ Nhi vào tiết Thượng Nguyên năm nay.
Nàng ta vẫn đứng ngoài rèm, lén giám sát cuộc trò chuyện giữa ta và trượng phu.
Những lời định nói lập tức nghẹn lại trong cổ họng.
Ta vội vàng đổi giọng:
“Phu quân bận rộn công vụ, nhiều ngày không thể về nhà. Hôm nay trong phủ lại xảy ra hỏa hoạn, vậy mà chàng vẫn lập tức trở về thăm thiếp.”
“Đối với thiếp, chẳng phải đó chính là phúc trong họa hay sao?”
Triệu Nguyên Sơn bật cười.
“Vân Hoàn, nếu nàng nhớ ta thì cứ sai người đến nha môn báo một tiếng.”
“Ta chỉ mong đời này nàng luôn thuận buồm xuôi gió, không phải lo nghĩ bất cứ điều gì.”
Tuệ Nhi quả nhiên là tai mắt do phủ Tấn An hầu cài vào.
Ta nhất định phải tìm cách đuổi nàng ta ra khỏi phủ thì mới có thể nói rõ chân tướng cho Triệu Nguyên Sơn biết.
Nhưng ta không rõ trong phủ này còn có bao nhiêu người đã bị Tấn An hầu mua chuộc.
Nếu đột ngột tìm cớ đuổi Tuệ Nhi đi, chẳng khác nào đ/á/n/h rắn động cỏ.
Vì thế, trước mặt nàng ta, ta vẫn tiếp tục giả vờ mù lòa, giữ nguyên vẻ tin tưởng và dựa dẫm vào nàng ta như trước.
Những ngày tháng gian nan cứ thế trôi qua.
Năm ngày sau, cuối cùng ta cũng chờ được cơ hội đưa Tuệ Nhi rời khỏi phủ.
Hôm ấy là ngày giỗ mười năm của mẫu thân nàng ta.
Huynh trưởng Tuệ Nhi tìm đến gặp ta, khẩn khoản xin phép cho nàng về nhà vài hôm.
Hắn muốn đưa cả gia đình đến Tô Châu tìm kế sinh nhai. Chuyến đi này e rằng sẽ rất lâu mới có thể trở về.
Ta thuận miệng đồng ý.
Sau khi Tuệ Nhi rời đi, Liễu Nhi được điều đến hầu hạ ta.
So với Tuệ Nhi, Liễu Nhi dễ đối phó hơn nhiều. Từ nhỏ, nàng ta đã tham ăn, trên người cũng có không ít sơ hở để lợi dụng.
Muốn tìm cớ đuổi nàng ta đi nơi khác không phải chuyện khó.
Ta âm thầm nhỏ vài giọt nhựa thiên trúc quỳ vào phần bánh còn thừa.
Sau đó, ta gọi Liễu Nhi đến.
“Liễu Nhi, lát nữa ngươi nhớ báo với gia rằng bánh khoai môn của tiệm này khó ăn quá. Lần sau đừng mua nữa.”
Thiên trúc quỳ có độc, có thể khiến người ăn phải đau bụng và tiêu chảy.
Nếu Liễu Nhi ăn phải thứ không sạch sẽ rồi xảy ra chuyện, người khác cũng khó lòng nghi ngờ đến ta.
“Vâng, phu nhân.”
Ánh mắt Liễu Nhi đã dán c/h/ặ/t vào đĩa bánh. Nàng ta còn không nhịn được mà nuốt nước bọt.
Ta lại hỏi:
“Gia đang ở đâu?”
“Người của nha môn vừa đến. Gia đang bàn công việc ở tiền sảnh.”
Liễu Nhi đáp xong liền bưng đĩa bánh khoai môn lên.
Ta tựa vào thành giường, khép mắt dưỡng thần.
“Ngươi cứ làm việc của mình đi. Ta muốn chợp mắt một lát. Khi nào gia bàn xong công việc thì nhớ gọi ta dậy.”
“Vâng!”
Liễu Nhi vui vẻ đáp lời rồi đóng cửa phòng lại.
Nàng ta ra ngồi ở bậc thềm, bắt đầu ăn bánh.
Từ khi ta bị mù, ta không thích tiếp xúc với người ngoài nên số lượng hạ nhân trong viện vốn đã ít ỏi.
Chỉ cần Liễu Nhi ở trong phòng, những người khác sẽ không t/ùy tiện bén mảng đến đây.
Ta dựa vào thành giường, kiên nhẫn chờ đợi.
Một nén nhang trôi qua, bên ngoài vang lên tiếng rên rỉ đau đớn của Liễu Nhi.
Ngay sau đó là tiếng bước chân lảo đảo, hốt hoảng chạy đi.
Khóe môi ta khẽ nhếch lên.
Ta lập tức đứng dậy, mở cửa bước ra ngoài.
Quả nhiên, bên ngoài đã không còn bóng người.
Bầu trời âm u. Gió thổi mãi cũng chẳng xua tan được bầu không khí nặng nề đang bao trùm khắp nơi.
Ta ngẩng đầu nhìn tầng mây đen trên cao. Đám mây ấy vẫn còn cách khá xa, ít nhất nửa khắc nữa trời mới đổ mưa.
Vì thế, ta không mang theo ô mà men theo ký ức mơ hồ trước khi bị mù, lần đường tiến về phía tiền sảnh.
Triệu phủ không lớn.
Phía trước có một cánh cổng hình trăng khuyết. Qua khỏi cổng là một tấm bình phong. Chỉ cần vòng qua bình phong, ta sẽ đến được tiền sảnh và gặp Triệu Nguyên Sơn.
Trong lòng ta có biết bao điều muốn nói với hắn. Ta đã sắp xếp mọi chuyện trong đầu, chỉ chờ gặp mặt để giãi bày.
Thế nhưng, khi vừa bước qua cổng, cảnh tượng trước mắt khiến ta sững sờ.
Nơi đáng lẽ phải có tấm bình phong quen thuộc lại là một hoa viên xa lạ.
Ở góc vườn có một hòn giả sơn trông vô cùng quen mắt.
Đó chính là hòn giả sơn ta từng va phải rồi ngất đi hôm ấy.
Trong lòng ta lập tức dấy lên sóng gió.
Bên cạnh hòn giả sơn có một cánh cửa nhỏ khép hờ, xung quanh không có người trông coi.
Ta chậm rãi bước đến, áp tai lên cánh cửa.
Từ bên ngoài vọng vào tiếng rao bán nước đường của người đi ngang qua phố.
Ta càng nghe càng thấy bất an. Trong lòng trăm mối ngổn ngang, ta vội xoay người, men theo bức tường viện lặng lẽ quay lại.
Đi ngang qua nơi được cho là phòng ở của mình, ta không bước vào mà rẽ sang hướng ngược lại, tiếp tục tiến sâu về phía đối diện.