Ta là đích nữ duy nhất của đương triều Thủ phụ, ngày định thân với tân khoa Trạng nguyên Bùi Tri Hành, chàng nắm tay ta, nói muốn về quê tảo mộ cho người cha đã khuất.

“Núi cao đường xa, nàng cứ ở kinh thành đợi ta.

Ta sẽ thay nàng đặt bùa bình an trước mộ cha, cũng coi như nàng đã tận tâm.”

Ta gật đầu, quay người dẫn theo hộ vệ lên đường đến quê chàng.

Nhưng khi đứng trước mộ, ta lại nhìn thấy một nữ t.ử ăn vận quý phái ôm bia mộ khóc lóc, luôn miệng gọi người đã qua đời bảy năm ấy là “công công”.

Nàng ta ngẩng đầu, trên cổ tay đang đeo đôi vòng vàng ròng ta tặng cho vị bà mẫu tương lai.

Ta bước tới, lau nước mắt giúp nàng ta, mặc kệ Bùi Tri Hành đang cứng đờ tại chỗ.

“Nếu đã khóc chân thành đến vậy, Bùi lang, chi bằng để ta thay hai người xin một đạo thánh chỉ tứ hôn nhé.”

Phụ thân ta quan cư Thủ phụ, trong nhà lại chỉ có một mình ta là nữ nhi.

Ông nuôi ta rất chiều chuộng, mùa đông lò sưởi tay phải chọn loại làm bằng noãn ngọc, mùa hè ăn một chén băng lạc cũng phải để thái y xem qua phương t.h.u.ố.c trước.

Năm ta mười lăm tuổi, ta theo ông đi tuần đê, giẫm bùn lội nước suốt hai ngày cũng không kêu khổ.

Từ đó về sau, ông không còn xem ta là cô nương chỉ có thể nuôi trong khuê phòng nữa.

Khi Bùi Tri Hành đỗ đầu tân khoa Trạng nguyên, phu nhân khắp thành đều đang xem xét chàng cho con gái nhà mình.

Phụ thân ta vốn không muốn chen vào chuyện náo nhiệt ấy, nào ngờ ta lại gặp chàng một lần trong yến tiệc hoa hạnh.

Chàng mặc một thân áo xanh đã giặt đến bạc màu, đứng giữa đám sĩ t.ử áo gấm chẳng hề nổi bật, nhưng đáp lời rất trầm ổn.

Khi nói về dân sinh, mắt chàng sáng lên; có người đem xuất thân hàn môn của chàng ra chế giễu, chàng cũng chỉ chắp tay cười cho qua.

Ta nghe một lúc, lại cảm thấy người này khá thú vị.

Sau khi tan tiệc, chàng đưa ta một cành hải đường vừa bẻ xuống, nói lúc đi ngang qua tường hoa thấy màu sắc rất hợp với ta.

Ta nhận lấy hoa, đến khi về phủ vẫn nắm c.h.ặ.t trong tay, làm dập mất hai cánh cũng không nỡ vứt.

Phụ thân ta rất không vui, mắng ta chưa từng thấy việc đời.

Ta ôm cánh tay ông mè nheo suốt nửa ngày, cuối cùng ông vẫn nhờ người dò hỏi phẩm hạnh của Bùi Tri Hành.

Kết quả hỏi được tốt đến mức không thể tốt hơn.

Huynh trưởng và tẩu t.ử của chàng bán mì nuôi chàng ăn học, chàng ngày ngày chép sách đến tận khuya; phụ thân mất sớm, mẫu thân lại bệnh tật, vậy mà chàng thà bớt một bữa cơm cũng muốn nhờ người cùng làng đưa t.h.u.ố.c về.

“Nhà nghèo mà dưỡng được một đứa trẻ biết nhớ ân như vậy, cũng hiếm có.”

Phụ thân ta vuốt râu nói.

Ba tháng sau, Tướng phủ và Bùi gia trao đổi canh thiếp, ta cùng chàng chính thức định thân.

Bùi Tri Hành đối đãi với ta rất chu đáo.

Chàng nhớ ta không thích đồ dầu mỡ, liền đi vòng nửa kinh thành mua bánh hoa mai của Thanh Thủy phường; ta thuận miệng nói một lần rằng mình sợ sấm, thế là mỗi đêm có sấm, ngoài cửa sổ luôn có người đưa đến một chén trà an thần.

Thơ chàng viết không đến mức sướt mướt, thỉnh thoảng kẹp trong sách, đọc lên lại khiến lòng người hơi nóng.

Khi ấy ta thật sự cho rằng mối hôn sự này có thể yên yên ổn ổn đi đến ngày thành thân.

Cho đến ngày thứ bảy sau khi định thân, chàng đến Tướng phủ từ biệt.

“A Oản, ngày mai là ngày giỗ của cha ta.”

Chàng cụp mắt, giọng nói rất khẽ.

“Cả đời ông chưa từng tới kinh thành, ta muốn trở về kể với ông chuyện ta đỗ Trạng nguyên và chuyện định thân.”

Nói rồi chàng khẽ siết đầu ngón tay ta, đầu ngón chàng có lớp chai mỏng, ấm áp mà khô ráo.

“Đường xóc nảy, nàng đừng theo rồi chịu khổ.

Ta sẽ thay nàng đặt bùa bình an trước mộ cha, cũng coi như nàng đã tận tâm.”

Theo lẽ thường, ta nên gật đầu tiễn chàng ra cửa.

Nhưng trước khi rời đi, ánh mắt chàng vô tình rơi xuống chiếc vòng vàng trên cổ tay ta, dừng lại một thoáng.

Đó là một đôi vật cũ mẫu thân để lại cho ta, hoa văn bình thường nhưng vàng rất tốt.

Ta hỏi chàng có thích không, chàng lập tức dời mắt, cười nói chỉ là chợt nhớ mẫu thân mình chưa từng đeo món trang sức như vậy.

Khoảnh khắc ấy, trong thần sắc chàng có một chút tiếc nuối, như đang tiếc thay cho ai đó.

Trong lòng ta bỗng sinh ra một cảm giác vướng mắc khó nói thành lời.

Sáng hôm sau trời còn chưa sáng, ta đã dẫn theo thị nữ Thanh Đại và hai hộ vệ ra khỏi thành.

Quê nhà Bùi Tri Hành nói tới ở Lâm Châu, cưỡi khoái mã cũng phải đi ba ngày.

Chàng từng nói trong nhà chỉ còn lão mẫu, hiện vẫn sống ở căn nhà cũ, thân thể không tốt lại nhớ con trai, không chịu lên kinh.

Ta nghĩ vừa hay mình mang theo yến sào, d.ư.ợ.c liệu cùng hai đôi vòng vàng ròng.

Lão nhân gia gặp được con dâu tương lai hẳn sẽ rất vui.

Ta còn tính toán sẽ khiến Bùi Tri Hành bất ngờ một phen khi nhìn thấy ta.

Lâm Châu mưa bụi liền hai ngày, đường núi ẩm ướt vô cùng.

Chiều ngày thứ ba, bánh xe sa vào vũng bùn, hộ vệ dắt ngựa đi kéo, ta dứt khoát cầm ô xuống xe hít thở.

Dưới chân núi có một cây cầu đá xanh mới sửa, cạnh cầu là một nấm mộ nhỏ.

Bia mộ được lau sạch sẽ, trước bia bày mấy đĩa trái cây cùng một bó cúc trắng còn tươi.

Một nữ t.ử trẻ tuổi khoác áo choàng vàng ngỗng quỳ ở đó, khóc đến vai run lên từng chặp.

Bên cạnh nàng ta có một bà t.ử nhỏ giọng khuyên nhủ.

“Di nương, mưa sắp lớn rồi, lão gia còn đang chờ người ở biệt trang đấy.”

1 - Vị Hôn Phu Muốn Về Quê Thủ Hiếu - Đọc truyện ngôn tình tổng tài bá đạo miễn phí | Lão Phật Gia