Không chỉ Trọng Diệp Nhiên và những người bạn thân thiết quan tâm đến tình hình sức khỏe của Khương Dung, mà ngay cả các đối thủ cạnh tranh của cô, tức các chủ nhiệm phân xưởng khác, cũng dõi theo.
Giữa các chủ nhiệm phân xưởng không đến mức là kẻ thù không đội trời chung, nhưng vị trí trưởng khoa Sản xuất vẫn còn bỏ trống. Dù mọi người đều ngầm hiểu đó vốn là vị trí dành cho Khương Dung, hiện tại cô vẫn chỉ kiêm nhiệm. Chừng nào cô chưa chính thức được bổ nhiệm, những người khác vẫn cảm thấy mình còn cơ hội, ai cũng muốn thử xem liệu mình có thể vươn lên hay không.
Hơn nữa, nhiều lợi ích trong nhà máy không phải là phần quà ai cũng có, phần lớn đều phải dựa vào bản thân và công nhân trong phân xưởng nỗ lực giành lấy. Những lợi ích ấy treo trước mắt như củ cà rốt trước con lừa kéo cối xay, thúc đẩy họ tiến lên, khiến sự cạnh tranh giữa họ là điều khó tránh khỏi.
Sau khi cơn nghén của Khương Dung thuyên giảm, cô nhanh ch.óng lấy lại trạng thái, chuyên tâm vào công việc, khiến các đối thủ cạnh tranh vô cùng thất vọng.
Họ vốn cho rằng phụ nữ sau khi m.a.n.g t.h.a.i phần lớn sẽ thiếu sức lực, khó cáng đáng công việc. Dù không chuyển sang vị trí nhẹ nhàng hơn thì cường độ công việc cũng sẽ giảm đáng kể.
Thậm chí đã có người nhắm đến phân xưởng thêu do Khương Dung quản lý, chờ khi cô không xoay xở nổi, cần người hỗ trợ thì sẽ đứng ra giúp đỡ, vừa giải quyết khó khăn vừa tạo cơ hội cho bản thân.
Không ngờ Khương Dung hồi phục nhanh đến vậy. Sau khi tình trạng không ăn được và nôn mửa giảm bớt, cường độ làm việc của cô vẫn như trước. Ngoài việc không còn làm những việc vượt ngoài phạm vi như lúc mới phát hiện mang thai, mọi công việc thường ngày đều được xử lý chu toàn, không hề bỏ sót.
Người khác mong cô vì m.a.n.g t.h.a.i mà lỡ mất cơ hội thăng tiến, lại không biết chính điều đó vô tình trở thành một lợi thế cho cô.
Nửa tháng sau khi bản thảo chia sẻ kinh nghiệm sản xuất của Khương Dung được nộp lên, Trọng Diệp Nhiên cũng đã hoàn thành lễ thụ phong quân hàm, mang về huân chương và huy chương, tất cả đều giao cho cô cất giữ.
Cũng đúng lúc Khương Dung trân trọng cất những tấm huân chương ấy cùng những vật kỷ niệm trước đây, ấn phẩm đăng bài viết của cô, “Tuần san Giao lưu Thủ công nghiệp”, bắt đầu được phát hành.
Trong bài viết này, Khương Dung khéo léo cài cắm một chút “ý riêng”.
Ngoài việc chia sẻ kinh nghiệm sản xuất tuyến đầu trong giai đoạn đầu thành lập nhà máy, cô còn l.ồ.ng ghép hướng dẫn một số mũi thêu cơ bản bằng cả hình ảnh và văn bản.
Vì ấn phẩm có chuyên mục giao lưu kỹ thuật nên cách viết này không hề đột ngột, chỉ là nếu xét kỹ thì có phần chạm sang nội dung của chuyên mục khác.
Tuy vậy, xét đến việc nhiều công nhân tuyến đầu có trình độ văn hóa không cao, chỉ cần bài viết không có sai sót, tòa soạn cũng không khắt khe. Họ muốn giữ lại sự chân thực, mộc mạc vốn có trong bài viết của công nhân.
Khi đọc bài của Khương Dung, họ nhận thấy phần hướng dẫn mũi thêu được trình bày ngắn gọn, dễ hiểu, lại có hình minh họa rõ ràng, rất phù hợp với độc giả chính là công nhân.
Thực tế cũng đúng như vậy. Nhiều người không thích đọc chữ dài dòng mà thích xem hình, đặc biệt là những công nhân có trình độ văn hóa hạn chế. Khi đứng trước hai bài viết có và không có hình, họ gần như chắc chắn sẽ chọn bài có hình trước.
Chỉ trong chưa đầy nửa ngày sau khi phát hành, tòa soạn đã nhận được thư của độc giả.
Một số người sống gần tòa soạn, đọc xong liền viết thư rồi tự mang đến, bỏ vào hòm thư trước cửa hoặc gửi trực tiếp cho phòng bảo vệ nhờ chuyển đến biên tập viên.
Trong số thư nhận được hôm đó, cứ mười lá thì có đến tám lá liên quan đến bài viết của Khương Dung.
Phần lớn đều hỏi liệu số tiếp theo có còn đăng bài của tác giả này, và có tiếp tục dạng bài hướng dẫn có hình như vậy hay không.
Sau khi tổng hợp ý kiến và câu hỏi phổ biến, biên tập viên mang đến gặp tổng biên tập.
Tổng biên tập xem xong liền thở dài: “Tiếc là bài đăng số tiếp theo đã được quyết định, không thể thay đổi.”
Thực ra không phải hoàn toàn không thể thay đổi, mà vì nhiều bài đăng đều là nhiệm vụ tuyên truyền do cấp trên giao, kế hoạch đã được định sẵn. Muốn điều chỉnh phải báo cáo lên trên, rất phiền phức.
Nếu là thời kỳ tự chủ tài chính, vì thành tích của tòa soạn, dù phải làm báo cáo họ cũng sẵn sàng. Nhưng hiện tại thì không.
Họ chỉ có thể chờ số này phát hành xong, thu thập phản hồi của độc giả rồi báo cáo lên cấp trên, để cấp trên nhận thấy nhu cầu thực tế.
Sau khi được phê duyệt, họ mới có thể liên hệ với tác giả hoặc thông qua cơ quan tuyên truyền cấp trên giao nhiệm vụ tiếp tục hợp tác.
Trong thời gian đó, độc giả dù sốt ruột cũng chỉ có thể chờ đợi.
Tuy nhiên, tòa soạn cũng không thể ngồi yên.
Tổng biên tập với kinh nghiệm nhiều năm, chỉ cần nhìn phản hồi hiện tại đã đoán được thư độc giả về bài này sẽ còn tiếp tục tăng.
Dù cấp trên không muốn thay đổi kế hoạch, cũng không thể hoàn toàn phớt lờ nhu cầu của độc giả.
“Cô liên hệ trước với Xưởng Thủ công mỹ nghệ, báo cho đồng chí Khương biết tình hình, rồi hỏi xem đồng chí ấy có thể viết thêm bao nhiêu.”
Nghe vậy, biên tập viên lập tức hiểu ý.
Nếu cấp trên đồng ý điều chỉnh kế hoạch, mà Khương Dung có đủ nội dung, họ có thể dành riêng cho cô một chuyên mục trong phần giao lưu kỹ thuật.
Nếu không, ít nhất cũng phải đăng thêm một bài để đáp ứng mong đợi của độc giả, tránh việc tòa soạn bị thư phản hồi “nhấn chìm”.
Đầu tháng chín, Mao Nguyệt Hương lại đến văn phòng của Khương Dung, lần này đi cùng cô là một biên tập viên.
“Chủ nhiệm Khương, đây là biên tập viên của ‘Tuần san Giao lưu Thủ công nghiệp’, đồng chí Hồng Tư Phi.”
Khi nhận bản thảo trước đó, họ chỉ biết tên tác giả, đến lúc gặp mới biết cô lại là chủ nhiệm phân xưởng.
Sau khi được giới thiệu, Hồng Tư Phi liền nói rõ mục đích chuyến đi.
Thấy Khương Dung đang mang thai, cô có chút áy náy vì cảm giác như đang tăng thêm gánh nặng cho người khác, đồng thời cũng thầm may mắn vì đã đến sớm, nếu để muộn hơn, e rằng đối phương không còn đủ sức viết bài.
Nhưng Khương Dung không hề xem đây là gánh nặng, ngược lại còn rất vui khi nghe xong.
Cô vốn muốn lấy ra “Sổ tay Đào tạo Thợ thêu” đã hoàn thành, nhưng vì đối phương chỉ yêu cầu một bài viết, đành nén lại ý định đó, đưa ra một bài phù hợp.
Bài này chính là phần tiếp theo của hướng dẫn mũi thêu cơ bản trước đó, vẫn sử dụng cách diễn đạt đơn giản, kèm hình minh họa chi tiết.
Đồng thời, cô cũng khéo léo “thả mồi”, giới thiệu sơ lược về các mũi thêu nâng cao và những vấn đề thường gặp khi áp dụng thực tế.
Nếu phản hồi tiếp tục tốt, cô hoàn toàn có thể cung cấp thêm nội dung.
Cuộc gặp lần này, cả hai bên đều đạt được mục đích, đều hài lòng.
Sau khi Hồng Tư Phi rời đi, Mao Nguyệt Hương quay lại, đưa cho Khương Dung một phong bì.
“Đây là gì?”
Khương Dung bóp nhẹ phong bì, cảm thấy bên trong là một xấp giấy nhỏ, không giống thư.
Mao Nguyệt Hương đáp: “Đây là tiền nhuận b.út của tòa soạn, nhưng hiện tại không gọi là nhuận b.út, mà là ‘trợ cấp lao động’, tính theo số chữ, mỗi người mười lăm đồng.”
Bài viết của họ khoảng ba nghìn chữ, mỗi nghìn chữ được năm đồng.
Phần hình ảnh do Khương Dung tự thêm không nằm trong kế hoạch nên không được tính tiền.
Nhưng cô không để ý điều đó, việc không bị trả lại bản thảo đã là tốt rồi.
Khoản trợ cấp này đối với cô và các thợ thêu khác là một niềm vui bất ngờ.
Khi Khương Dung mang về phát, cả phân xưởng sôi sục, không ai ngờ phối hợp công việc với Khoa Tuyên truyền lại có thêm thu nhập.
Trước đó, việc bỏ phiếu chọn người đã khiến nhiều người âm thầm quyết tâm phải làm việc chăm chỉ hơn. Lần này lại càng như được tiếp thêm động lực.
Tin tức nhanh ch.óng lan ra, các phân xưởng khác vô cùng ghen tị.
Khi Mao Nguyệt Hương đưa Hồng Tư Phi đến văn phòng của Khương Dung, cũng có người nhìn thấy, tưởng rằng lại có nhiệm vụ mới.
May mà lần này cô đã rút kinh nghiệm, chủ động tiết lộ trước rằng chuyến đi này không liên quan đến Khoa Tuyên truyền, mà là biên tập viên đến tìm riêng Khương Dung.
Lần trước bốn bài viết được nộp lên, chỉ có bài của cô là được yêu thích nhất.
Người khác không phục thì có thể tự đi mua “Tuần san Giao lưu Thủ công nghiệp” về đọc, rồi tự so sánh.
Tạp chí này vốn đã có không ít người trong xưởng mua vì có mục giao lưu kỹ thuật. Trước đây học nghề chủ yếu dựa vào sư phụ, nếu bị giấu nghề thì chỉ còn cách tự học hoặc tìm người khác.
Bây giờ khác rồi, kỹ thuật đã được ghi lại trong sách, lại có thể học được thật sự, không ai muốn bỏ lỡ.
So với chi phí bái sư trước kia, tiền mua tạp chí chẳng đáng là bao, lại có thể chia nhau đọc.
Lần này vì có bài viết của công nhân trong xưởng, Cốc Sanh còn cho mua thêm một số lượng đặt ở phòng sinh hoạt để mọi người cùng đọc, khiến lượng người mua tăng lên rõ rệt.
Đặc biệt khi biết biên tập viên còn tìm đến tận nơi để xin thêm bài của Khương Dung, ai cũng muốn xem cô đã viết gì.
Ban đầu nhiều người định không mua vì có thể đọc chung, nhưng sau khi xem xong bài của cô, ai nấy đều chạy đi mua về cho người nhà.
Có người mua cho vợ, cho con gái, cho chị em trong nhà.
Thậm chí họ còn viết thư gửi tòa soạn, mong tiếp tục đăng những bài như vậy để người thân có thể học thêm.
Khi số thứ hai chưa có bài của Khương Dung, họ còn tự an ủi rằng có lẽ bản thảo mới nộp, số sau sẽ đăng nên chỉ viết thư thúc giục.
Đến số thứ ba vẫn không có, họ bắt đầu bức xúc, trong thư không chỉ thúc giục mà còn kèm theo trách móc.
Khương Dung làm việc trong nhà máy, thường xuyên xuống phân xưởng nên cũng biết những chuyện này.
Cô từng nghĩ đến việc báo với nhà máy rằng mình đã hoàn thành “Sổ tay Đào tạo Thợ thêu”, nhưng lại cảm thấy làm vậy quá chủ động, không phù hợp.
Nội dung trong sổ tay thực ra trước đây đã từng được dùng trong đào tạo, nhiều thợ thêu từng xem qua, nhất là nhóm mới vào.
Chỉ là sau khi học xong, nhiều người không còn coi trọng, giống như học sinh bán sách giáo khoa sau kỳ thi.
Giờ đọc lại, có người thấy quen thuộc nhưng chỉ số ít thực sự nhớ.
Vì vậy, cô quyết định tiếp tục cung cấp bài viết cho tòa soạn từng bước, vừa có thêm thu nhập, vừa phục vụ mục tiêu ban đầu của mình.
Đối với những người không có năng khiếu như Đổng Phượng Vân, thời gian đào tạo rất dài.
Cô muốn gieo một hạt giống, để những ai muốn học nghề có thể tự học trước.
Như vậy, nếu sau này áp lực sản xuất tăng cao, cần tuyển thợ lành nghề mà không đủ người, cũng không phải bắt đầu đào tạo lại từ con số không. Đây có thể xem là đôi bên cùng có lợi.