Vừa bước vào điện, ngài ấy đã mau ch.óng cúi đầu hành lễ với Hoàng hậu.
Hoàng hậu liếc nhìn ngài ấy một cái, rồi cất giọng không mấy thân thiện: "Ta chỉ ghé qua xem thử một chút, làm gì mà con phải vội vã như vậy?"
Nói xong, bà lại quay sang nhìn ta: "Sau này khi nào rảnh rỗi, con có thể thường xuyên vào tẩm cung thăm ta."
Ta vội vàng đáp: "Vâng, thần thiếp tuân mệnh."
Hoàng hậu không nán lại lâu, rời đi ngay sau đó; dường như bà thực sự chỉ tạt qua xem xét tình hình rồi đi.
Ta thực sự chẳng thể hiểu nổi vì sao Thái t.ử lại phải vội vàng chạy xộc tới đây như thế.
Ta nghe tin về cuộc chiến tranh nơi biên cương vào một tháng sau đó.
Hôm đó, như thường lệ, ta thong dong đi dạo quanh sân viện cùng A Thước.
Ngắm nhìn những bông hoa đào nở rộ trong vườn, ta bỗng nảy ra một ý tưởng liền bảo A Thước vào gian phòng bên lấy một chiếc giỏ mây lớn hơn.
Sau khi lựa chọn kỹ lưỡng, ta thu gom những cánh hoa có màu sắc rực rỡ và hương thơm ngào ngạt nhất để chuẩn bị ủ rượu hoa đào.
Chỉ trong nháy mắt, ta đã thấy Thái t.ử đứng sừng sững trước khoảng sân từ lúc nào.
Đã hơn một tháng kể từ lần cuối ta gặp lại ngài ấy.
Đúng vậy, kể từ lần Hoàng hậu giá lâm và ngài ấy vội vã chạy tới, ngài ấy chưa từng bước chân đến viện của ta thêm một lần nào nữa.
Trong khoảng thời gian này, ta đã vào cung thăm tỷ tỷ vài lần, và lần nào ta cũng cử A Thước đến thư phòng xin phép ngài ấy. Lần nào ngài ấy cũng gật đầu đồng ý, nhưng sau đó tuyệt đối không cùng ta tiến cung nữa.
Ngài ấy đứng yên ở đó một lúc lâu, dường như không có ý định cất lời làm phiền ta.
A Thước cúi đầu hành lễ rồi vội vã lui ra ngoài.
"Thần thiếp bái kiến Thái t.ử điện hạ."
Vì đã lâu không gặp ngài ấy, mấy từ ngữ lễ nghi ấy khi thốt ra khiến ta cảm thấy thật xa lạ, gượng gạo.
"Nàng đang làm gì vậy?" Ngài ấy bước lại gần, giọng nói nhẹ nhàng và êm ái, như thể chúng ta chỉ là một cặp phu thê mới cưới bình thường.
"Bẩm Điện hạ, thần thiếp muốn hái một ít hoa đào để ủ rượu."
Vừa dứt lời, ta chợt nhớ ra ngài ấy từng nhắc nhở ta hai lần rằng đừng dùng lễ nghi xa cách để nói chuyện với ngài ấy. Nhưng đã quá lâu kể từ lần cuối hai ta trò chuyện, đến mức ta gần như quên mất câu dặn dò: "Nàng không cần phải nói chuyện với ta như thế."
Thế nhưng ngài ấy có vẻ chẳng để ý đến ngữ điệu của ta nữa, chỉ tiến lại gần hơn để ngắm nhìn những cánh hoa đào nằm gọn trong giỏ, thậm chí còn vươn tay hái thêm vài cánh hoa: "Ừm, như vậy cũng tốt."
Bầu không khí im lặng lại bao trùm lấy hai người trong giây lát.
Ánh mắt ngài ấy dường như hướng về phía ta, nhưng ta chỉ ngước nhìn lên bầu trời rồi đảo qua đảo lại giữa những giỏ hoa và t.h.ả.m cỏ, chẳng biết nên dừng lại ở đâu cho phải.
"Xuân Yến."
Giọng ngài ấy rất nhẹ nhàng; đây là lần đầu tiên ngài ấy cất tiếng gọi tên ta.
"Nhạc Tướng quân và phu nhân sắp sửa ra chiến trường."
Chỉ với một câu nói đó, ta đã lập tức hiểu được điều ngài ấy muốn truyền đạt.
Hồi ta và tỷ tỷ còn nhỏ, chiến sự nơi biên cương vô cùng căng thẳng, phụ thân và mẫu thân đã phải xa nhà chinh chiến suốt ba năm rỗng.
"Ta sẽ đưa nàng về phủ thăm họ một chuyến."
Thái t.ử đã đích thân đưa ta trở về Tướng quân phủ.
Sau nhiều ngày không gặp, ta cảm thấy phụ thân và mẫu thân trông tiều tụy đi trông thấy.
Điều khiến lòng ta chua xót khôn nguôi là ta không còn có thể tự do lao đến ôm chầm lấy họ và thổ lộ rằng ta nhớ họ đến nhường nào được nữa.
Họ thậm chí còn cúi đầu kính cẩn hành lễ và gọi ta một tiếng "Thái t.ử phi".
Khi đầu ngón tay của Thái t.ử nhẹ nhàng chạm vào khóe mắt ta, ta mới giật mình nhận ra bản thân đã rơi lệ đầm đìa kể từ khoảnh khắc bước chân vào sân viện.
"Đa tạ Thái t.ử điện hạ."
Bàn tay ngài ấy khựng lại trong không trung một lát, rồi từ từ thu về.
Khi bước vào hậu viện, phụ thân ở lại đại điện đàm đạo chuyện triều chính với Thái t.ử, còn ta nắm c.h.ặ.t lấy tay mẫu thân cùng nhau tiến vào phòng trong.
Vừa vội vàng khép c.h.ặ.t cánh cửa, ta liền sà ngay vào lòng mẫu thân.
"Con nhớ mẫu thân lắm." Những lời thốt ra đã nghẹn ngào trong tiếng nức nở.
Mẫu thân nhẹ nhàng vỗ vỗ lưng ta, giúp ta ổn định lại nhịp thở: "Đã gả làm phu nhân người ta rồi mà vẫn cứ như một đứa trẻ thế này."
Ta rúc sâu vào lòng bà rồi thút thít: "Chẳng phải mẫu thân từng nói, dù con có bảy mươi hay tám mươi tuổi thì vẫn mãi là đứa con bé bỏng của mẫu thân sao?"
Trong những tháng ngày sống ở Đông cung, dù cuộc sống không hẳn là bị áp bách, nhưng trong lòng ta chưa bao giờ thấy dễ chịu. Ngoại trừ A Thước ra, ta chẳng có lấy một ai để dốc bầu tâm sự.
Đã nhiều lần ta cảm thấy bản thân chẳng thể gồng gánh thêm nổi và muốn lén trốn về nhà, nhưng ta luôn ghi nhớ những lời mẫu thân từng dặn dò.
Khi ấy, bà từng nói với hai tỷ muội ta: "Đối với một người phụ nữ, gặp được người mình thương trong đời đã khó, gả được cho người mình thương lại càng khó hơn. Nhưng điều quan trọng nhất là chúng ta không sống chỉ vì tình yêu. Ta chỉ mong các con có thể sống một cuộc đời an yên, tự tại."
Lúc đầu, ta thường tự hỏi tại sao Thái t.ử lại cưới ta nếu ngài ấy không hề thích ta, thậm chí ngài ấy còn chẳng buồn bước chân đến thăm ta. Nhưng mỗi khi nhớ đến lời dặn của mẫu thân, lòng ta lại lắng xuống, bình thản đến lạ.
Ta chẳng thể thay đổi thân phận Thái t.ử phi này. Đã không thể trao nhau chân tình, vậy thì chỉ cần đối xử với nhau bằng sự tương kính như tân là đủ rồi.
Ta đã khóc rất lâu trước khi ngước đôi mắt ướt nhòe ra khỏi vòng tay mẫu thân.
"Con nghe Thái t.ử nói phụ thân và mẫu thân sắp sửa ra trận sao?"