Rồi sau đó bà c.ắ.n răng một thân một mình đội màn đêm mù sương cuốc bộ hơn ba mươi dặm đường dài để đến thị trấn lớn bán chui cho những gia đình giàu có lắm tiền nhiều của.
Giọng nói của bà ngọt ngào, truyền cảm, cách ăn nói lại vô cùng nhã nhặn và lễ phép, nên mỗi lần đi chợ đen bà đều bán được giá rất cao.
Thế nhưng việc thức trắng đêm ròng rã suốt nhiều ngày liền khiến cho ban ngày khi đi làm công điểm ở đội sản xuất bà luôn rơi vào trạng thái mệt mỏi đờ đẫn thiếu sức sống.
Trong đội sản xuất bấy giờ bỗng bắt đầu xuất hiện những lời đàm tiếu dị nghị ác ý sau lưng:
"Ngày xưa thì điên dại, bây giờ thì lại giở chứng lười biếng trốn việc, đẻ liền tù tì được ba đứa con rồi mà cái thói xấu vẫn chẳng chịu sửa đổi chút nào!"
Những lời gièm pha đay nghiến ấy chẳng mấy chốc đã bay thẳng vào tai của cụ cố ngoại, bà cụ tức giận đến mức mặt mày xám xịt, vơ lấy chiếc chổi đót đầu hồi quét túi bụi劈 đầu劈 mặt giáng xuống người con dâu:
"Tôi chịu cảnh góa bụa thủ tiết nuôi con suốt nửa cuộc đời, chưa từng bao giờ để cho bất kỳ kẻ nào ngoài xã hội dám buông một lời đàm tiếu chê bai sau lưng! Vậy mà đến đời của cô, cô lại dám làm bôi tro trát trấu làm nhục nhã gia phong của dòng họ Tiêu này hả?!"
Trong mắt của cụ cố ngoại thời bấy giờ: Điên dại là một căn bệnh, có bệnh thì phải chữa trị;
Thế nhưng lười biếng thì đích thị là cái thói hư tật xấu cần phải dùng đòn roi nghiêm trị để uốn nắn!
Một gia đình bần hàn nghèo đói mà lại rước về một cô con dâu lười biếng, thì coi như cả cái cơ nghiệp ấy sẽ vĩnh viễn không bao giờ nhìn thấy nổi nửa tia ánh sáng mặt trời.
Bà ngoại lúc này trong lòng từ lâu đã sớm coi mẹ chồng như mẹ đẻ ruột thịt của mình.
Bất thình lình hứng trọn một trận đòn roi tàn khốc vô cớ ấy, cả con người bà sợ hãi đến mức c.h.ế.t lặng đờ đẫn cả tâm thần.
Đợi đến khi ông ngoại đi làm về bước chân vào cửa, bà chỉ biết nép sau cánh cửa, ngây dại thốt lên đúng một câu nghẹn ngào: "Mẹ đ.á.n.h em anh ơi."
Nhìn bộ dạng ngơ ngác đáng thương như một khúc gỗ của người vợ tội nghiệp, trong tâm trí ông ngoại bỗng chốc hiện về hình ảnh người con gái năm xưa từng ngồi dưới căn hầm đất tối tăm vừa khóc vừa ôm lấy cổ tay kêu đau buốt.
Ông liền bảo ba đứa con thơ vào giường ngủ cùng mẹ để dỗ dành bà.
Còn bản thân ông thì lẳng lặng quay người bước chân ra khỏi cổng nhà giữa đêm khuya thanh vắng.
Ông đã hạ quyết tâm bắt buộc phải nhặt lại chiếc áo đạo bào và truyền thống làm thầy phong thủy cúng lễ của người cha quá cố năm xưa!
Ở vùng quê hẻo lánh quê tôi, những người hành nghề cúng lễ đạo giáo dân gian được bà con trong vùng vô cùng kính trọng và tôn xưng là "Đạo nhân tiên sinh", hay còn gọi là các bậc "Tư công t.ử".
Họ chuyên phụ trách chủ trì toàn bộ các nghi thức tang ma tế lễ sau khi người già qua đời, đồng thời kiêm luôn việc làm lễ gọi vía chuộc hồn cho trẻ nhỏ bị kinh sợ, và chọn ngày lành tháng tốt cho các sự kiện cưới hỏi làm nhà.
Nếu như gia đình nào có điều kiện kinh tế khá giả muốn tổ chức đại lễ cầu an giải hạn, thì toàn bộ các nghi thức từ lập đàn tụng kinh, dựng cổng lễ môn sơn, an sát trấn trạch cho đến việc cúng tế miếu thần hoàng và thổ địa, đều nằm trọn trong phạm vi chuyên môn của họ.
Ở chốn thôn quê nghèo khó, đây là một nghề nghiệp vô cùng hệ trọng, được trọng vọng và đặc biệt là có thể kiếm được những khoản tiền thù lao rất khá.
Trong những năm tháng kháng chiến và sản xuất tập thể ngặt nghèo trước đây, mọi người đều dồn sức vào công cuộc thi đua lao động nên cái nghề này rất hiếm khi được ai nhắc đến.
Thế nhưng khi đời sống kinh tế bắt đầu có phần nới lỏng và khởi sắc trở lại, người dân thôn dã lại bắt đầu nhớ về cội nguồn tổ tiên, vong linh người đã khuất và các yếu tố phong thủy phúc trạch gia đình.
Thế nhưng muốn thực sự tinh thông và thành tài trong cái nghề bí truyền này thì tuyệt đối không phải là một chuyện dễ dàng chút nào.
Việc học thuộc lòng hàng ngàn trang kinh sách cổ và vẽ thành thạo các đạo bùa chú trừ tà mới chỉ là những môn học nhập môn vỡ lòng cơ bản nhất.
Biết tụng niệm, biết hát xướng và biết gõ mõ đ.á.n.h chuông theo các điệu Đại Quy Y, Tiểu Quy Y cũng chỉ là những kỹ năng có độ khó bình thường.
Thế nhưng để trong suốt quá trình hành lễ có thể thực sự an định được vong hồn người đã khuất và mang lại sự hưng thịnh phúc lộc cho gia chủ, thì đòi hỏi người thầy phải có khả năng tập trung niệm lực tinh thần cực độ, thậm chí phải có sự trợ lực che chở từ các bậc tổ sư đời trước.
Là một thanh niên cộng sản gương mẫu đã trải qua biết bao nhiêu năm tháng được giáo d.ụ.c bài trừ mê tín dị đoan của phong trào "Phá Bốn Cũ", ông ngoại tôi chân thành thừa nhận rằng: Đây thực sự là một thử thách vô cùng khó khăn đối với ông.
Thế nhưng dẫu cho có muôn vàn khó khăn đi chăng nữa thì ông cũng bắt buộc phải c.ắ.n răng vượt qua bằng mọi giá!
Cả một bức tường trong gian nhà tranh treo kín mít những tấm giấy khen học sinh giỏi của ba đứa con thơ, người làm cha như ông thử hỏi còn mặt mũi nào mà không lo nổi vài đồng tiền học phí cho các con ăn học cơ chứ?!
Công việc lao động sản xuất tập thể ban ngày ở đội tuyệt đối không được phép lơ là chậm trễ, nên cứ hễ đêm đến là ông lại bắt đầu chuỗi ngày dùi mài kinh sử khổ luyện dưới ánh lửa.
Kinh sách của người cha để lại chẳng còn sót lại được bao nhiêu cuốn, mà cha thì cũng đã sớm qua đời từ lâu.
Ông đành phải lặn lội tìm đến nhà một người sư thúc nhỏ tuổi của cha đã gần bảy mươi tuổi đời, kiên nhẫn học vẹt từng câu từng chữ kinh kệ, tập vẽ từng nét bùa chú trừ tà.
Không có tiền mua dầu hỏa thắp đèn, ông liền ngồi ghé sát vào bếp lửa củi để lấy ánh sáng bập bùng.
Không có tiền mua giấy mực tập viết, ông liền tự tay san phẳng một khay cát mịn trước mặt để dùng cành cây tập vẽ bùa.
Bà ngoại những lúc rảnh rỗi thường hay cất tiếng trêu chọc ông một cách hóm hỉnh:
"Ông ngoại của các cháu quả thực là vụng về và chậm hiểu lắm nhé, bà ngồi bên cạnh nghe lỏm vài lần thôi mà đã thuộc làu làu đọc ngược xuôi trôi chảy rồi, vậy mà ông ấy thì cứ học câu sau lại quên mất câu trước đấy!"
Mấy đứa con nhỏ được tắm mình trong tấm gương hiếu học và sự kiên trì nhẫn nại của người cha, lại càng thêm phần chăm chỉ và nỗ lực học tập nghiêm túc hơn.
Bà con lối xóm ai nấy đều vô cùng ngưỡng mộ gia đình ông ngoại, tấm tắc khen ngợi một gia đình nghèo khó bần hàn vậy mà lại sinh dưỡng được tới ba đứa con đỗ đạt học hành giỏi giang.
Mỗi lần nghe người ta khen ngợi như vậy, ông ngoại lúc nào cũng chỉ đưa tay áo quẹt vội những giọt mồ hôi trên trán, nở một nụ cười thật thà chất phác:
"Tất cả đều là nhờ thừa hưởng gen thông minh của mẹ chúng nó cả đấy, mẹ chúng nó trí nhớ tốt lắm các bác ạ."
Mỗi lần nghe thấy chồng khen ngợi mình trước mặt mọi người như vậy, bà ngoại lại đưa ánh mắt tự hào và đắc ý liếc nhìn ông một cái, rồi ân cần bưng ra một bát nước chè tươi thơm phức đã được để nguội cho ông uống giải khát.
Bát nước chè ấy, cũng chính là do chính đôi bàn tay của bà ngoại lặn lội lên rừng hái về.
Vào thời kỳ bấy giờ, các đồi chè đều thuộc quyền quản lý của các nông trường quốc doanh, thế nhưng nhà nào trong làng cũng đều lén lút trồng giấu một vài gốc chè quanh hàng rào, chẳng vì mục đích gì to tát cả, chỉ đơn giản là vì uống nhiều nước lã quá thì bụng dạ sẽ càng cồn cào cào ruột đói khát hơn.
Gia đình ông ngoại trước đây vốn chẳng bao giờ có nước chè để uống, bởi vì cụ cố ngoại sau khi quần quật lao động sản xuất ngoài đồng về nhà lại phải lo toan cơm nước giặt giũ cho năm cậu con trai đang tuổi ăn tuổi lớn, căn bản chẳng còn chút tâm trí hay thể lực đâu để mà lên rừng hái những b.úp chè tươi quý giá ấy nữa.
Kể từ sau ngày căn bệnh tâm thần không còn tái phát, bà ngoại lại vô cùng thích thú để tâm suy nghĩ đến những chuyện nhỏ nhặt vun vén cho gia đình như thế này.
Bà chưa từng bao giờ quên việc ngày ngày xách nước tưới tắm và bón phân chăm sóc cho mấy gốc chè sau vườn rào.
Những b.úp chè non đầu mùa sau khi được hái về sao khô cẩn thận trên chảo gang, bà liền dùng giấy dầu bọc kín lại thật c.h.ặ.t, tìm cơ hội mang ra thị trấn lớn bán cho các cán bộ có tiền, đổi lấy vài hào mua mấy gói muối trắng cho gia đình.
Còn lại những lá chè già thô ráp bên dưới thì bà giữ lại nấu nước cho cả nhà uống hàng ngày.