Ta vội gõ trán chàng: “Đừng khóc.
Nếu nước mắt nhỏ lên sổ khiến mực nhòe, lại phải tính lại từ đầu.”
Ngày hôm sau, chúng ta mời Hứa nương t.ử, một quả phụ làm nghề mộc trong trấn, đến sửa bếp, lại ra bến tàu tìm một lão đầu bếp giỏi món sông nước.
Lục Văn Nghiễn dán sổ nợ cũ của t.ửu lâu trước cửa, lần lượt tới từng nhà đòi tiền ăn còn thiếu.
Có người cậy chàng còn trẻ muốn quỵt nợ, chàng liền mở sổ, nhớ rõ đến mức hôm nào người đó gọi thêm một bình rượu, làm vỡ chiếc bát nào cũng có đủ.
Ta đứng bên cạnh nhìn mà kinh ngạc.
Người ở trước mặt ta ngay cả lời tình cũng nói không lưu loát, lúc bàn tới bạc tiền lại câu nào câu nấy rõ ràng, còn có thể mỉm cười chặn người nợ tiền ở đầu ngõ cho đến khi đối phương đỏ mặt móc đồng tiền ra.
Hơn mười ngày trôi qua, t.ửu lâu dần có khách.
Ta sửa d.ư.ợ.c thiện thường làm cho bệnh nhân thành món ăn, mùa xuân có cá hấp trần bì, gà tía tô, mùa hạ có cháo lá sen và nước ô mai.
Lão đầu bếp ban đầu chê ta làm bừa, nếm vài món xong lại lén ghi công thức vào trong tay áo, gặp ai cũng khen chưởng quầy nương t.ử biết nấu ăn.
Lục Văn Nghiễn nghe được lời khen này, đi đường cũng như có gió dưới chân.
Chàng treo trước cửa một tấm biển gỗ mới, trên đó viết “Dược thiện do chưởng quầy nương t.ử tự phối”, viết xong lại nhỏ giọng hỏi ta có phải hơi phô trương không.
Ta nói: “Treo cũng treo rồi, bây giờ chàng xấu hổ còn tác dụng gì?”
Chàng sờ mũi, quay đầu bảo tiểu nhị treo bảng cao thêm một chút.
Ngày t.ửu lâu khai trương tròn một tháng, Tiết Lăng từ phương Bắc tới.
Nàng không mang theo phô trương gì, chỉ dẫn một ma ma và một tiểu nha hoàn.
Đứa trẻ đã ra đời, là một bé gái rất hay khóc, gương mặt giống chiếc bánh đào vừa hấp chín.
Tiết Lăng ôm con đứng ở cửa, thần sắc hơi gượng gạo, như không chắc ta có đuổi nàng ra ngoài hay không.
Ta bảo tiểu nhị mời nàng lên tầng hai, lại sai bếp nấu một bát mì gà thanh đạm.
Nàng nhìn con sông ngoài cửa sổ, thấp giọng nói: “Đến trang viên rồi ta mới biết trong sổ sách có nhiều việc chờ người xử lý đến thế.
Mùa cày xuân, quản sự cắt xén lương của mấy hộ tá điền, ta dẫn ma ma tra từng nhà một, bận xong đến cả thời gian nhớ lại chuyện trước kia cũng không có.”
Ta châm thêm trà cho nàng: “Như vậy rất tốt.”
Tiết Lăng ôm con, cười có chút gượng: “Trước kia ta luôn cho rằng ngươi ghét ta.”
“Ta quả thật không thích lúc đó nàng cứ dùng hồ nước và nước mắt dọa người.”
Mặt nàng lập tức đỏ lên.
Ta lại nói: “Nhưng nàng chịu sống t.ử tế cuộc đời mình, ta thay nàng vui.
Sau này đứa trẻ nếu sốt ho, có thể đưa tới chỗ ta xem.
Chỉ là đừng nhảy hồ nữa.”
Nàng bật cười, vành mắt lại hơi ướt.
Nàng không nhắc Tạ Thừa Tẫn nữa, chỉ lấy từ bọc đồ ra một chiếc yếm nhỏ thêu hải đường, nói là chuẩn bị cho con của chúng ta sau này.
Lục Văn Nghiễn vừa lúc bưng một đĩa điểm tâm lên lầu, nhìn thấy chiếc yếm nhỏ, tai lập tức đỏ bừng.
Chàng đặt điểm tâm xuống, lấy cớ nhà bếp có việc rồi xoay người bỏ chạy.
Tiết Lăng nhìn bóng lưng chàng, có chút không hiểu.
Ta xoa trán: “Chàng ấy da mặt mỏng, quen là được.”
Đêm đó, quả nhiên Lục Văn Nghiễn trốn trong chăn không chịu ló đầu.
Ta vỗ chăn: “Lục chưởng quầy, chàng trốn gì?”
Chàng buồn buồn nói: “Nàng ấy tặng yếm nhỏ.”
“Tặng thì tặng.”
“Vậy chúng ta có phải cũng nên…”
Nửa câu sau nhỏ như tiếng muỗi.
Ta kéo chăn xuống, thấy mặt chàng đỏ đến khó coi, không nhịn được ghé qua hôn ch.óp mũi chàng: “Lục Văn Nghiễn, sổ t.ửu lâu còn chưa tính xong, trước tiên lo cho tốt cuộc sống trước mắt đi.”
Chàng ấm ức đáp một tiếng, tay lại rất thành thật ôm lấy eo ta.
Ngoài cửa sổ, nước sông vỗ bờ, xa xa có người chèo thuyền đi qua, đèn thuyền kéo thành một vệt sáng dài trên mặt nước.
Ta dựa trong lòng chàng, nghe tiếng mái chèo ngoài cửa sổ.
Con đường thủy từ kinh thành đến trấn Thanh Bồ đi rất nhiều ngày, phong cảnh dọc đường nay ta đã không nhớ rõ hết.
Điều ta nhớ rõ là mỗi lần quay đầu, Lục Văn Nghiễn đều ở nơi không xa nhìn ta, trong tay không xách hòm t.h.u.ố.c thì cũng ôm sổ sách.
Sau này, chúng ta mở chi nhánh Bến Hải Đường ở trấn Thanh Bồ ven sông.
Y quán trong nhà cũ họ Tô đã sửa xong, thím Lý ở lại kinh thành trông nom.
Tần lão phu nhân chuyển đến trang viên suối nóng, cách vài ngày lại sai người đưa thư tới, trong thư mười câu có tám câu mắng Tạ Thừa Tẫn không biết điều, hai câu còn lại hỏi khi nào ta đưa Lục Văn Nghiễn về ăn cơm.
Lục Văn Nghiễn đọc thư xong luôn gấp giấy cẩn thận, cất vào hộp.
Miệng chàng nói tổ mẫu thiên vị, quay đầu lại nhờ người gửi cho bà những d.ư.ợ.c liệu tốt nhất.
Trấn Thanh Bồ có một con sông, hai bờ đều là tường trắng mái ngói đen.
Sau này nhà họ Lục mua một t.ửu lâu cũ sát sông, ngay trước cửa là một cây hải đường rất lớn.
Ta dẫn tiểu nhị thu dọn bếp sau, Lục Văn Nghiễn ôm sổ ngồi sau quầy, nửa ngày vẫn chưa tính xong một trang.
Ta đi tới nhìn, phát hiện chàng viết hơn mười cái tên “Tô Vãn Đường” trên giấy.
“Lục chưởng quầy, chàng mở t.ửu lâu hay luyện chữ?”
Chàng lập tức khép sổ lại, giả vờ như không có chuyện gì: “Ta đang nghĩ chữ trên biển hiệu.”
“Biển hiệu chẳng phải đã viết rồi sao?”
“Ta thấy có thể viết thêm một tấm.”
Ta rút b.út lông khỏi tay chàng: “Viết nữa, khách sẽ tưởng Bến Hải Đường bán tranh chữ.”
Ngày chi nhánh khai trương, Lục Văn Nghiễn mời tiên sinh kể chuyện, lại bày trà t.h.u.ố.c miễn phí trước cửa.
Vị khách đầu tiên bước vào liền hỏi: “Chưởng quầy, nghe nói món nhà ngươi có thể chữa bệnh?”
Ta vội giải thích: “Không chữa bệnh được, chỉ giúp ngài ăn bớt dầu mỡ và muối thôi.”
Lục Văn Nghiễn ở bên cạnh bổ sung một câu: “Phương do nương t.ử nhà ta kê, mùi vị cũng rất ngon.”
Khách bật cười, t.ửu lâu nhanh ch.óng kín chỗ.
Sau này ta mở một phòng khám nhỏ trên lầu, chữa cho phụ nhân và trẻ nhỏ trong trấn những chứng đau đầu nóng sốt.
Lục Văn Nghiễn thì quản sổ sách t.ửu lâu đâu ra đấy, tiện tay mở thêm một tiệm sách bên cạnh.
Buổi chiều ít khách, chàng thường ôm mèo lên lầu tìm ta, giả vờ xem bệnh, thực ra là nằm lì trên sập không chịu đi.
Ta hỏi chàng khó chịu ở đâu.
Chàng ôm n.g.ự.c nói: “Ta nhớ nàng đến tức n.g.ự.c.”
Ta bắt mạch cho chàng, ra vẻ nghiêm túc gật đầu: “Đúng là bệnh tương tư.
Phương t.h.u.ố.c là xuống lầu rửa hết bát hôm nay.”
Mặt chàng lập tức xị xuống: “Nương t.ử, sao nàng nhẫn tâm thế?”
Ta đóng hòm t.h.u.ố.c lại: “Lục chưởng quầy, chàng không rửa thì tối nay ta không cho vào phòng.”
Chàng ôm mèo chạy vội xuống lầu, chạy được nửa đường lại quay đầu gọi: “Ta rửa hai trăm cái bát, ngày mai nương t.ử có thể đi xem đèn với ta không?”
Nắng chiều xuyên qua song cửa rọi vào, rơi trên chén t.h.u.ố.c và chồng sổ sách trên bàn.
Ta ngồi bên cửa sổ nghe chàng ở dưới lầu đấu khẩu với tiểu nhị, mèo vàng nằm trên đầu gối ta ngáy khò khò.
Nhiều năm về sau, t.ửu lâu Bến Hải Đường ngày càng mở rộng.
Chúng ta mở thêm một tiệm sách ở bờ đối diện, lại lập một hàng d.ư.ợ.c liệu tại bến tàu.
Có người hỏi ta vì sao sống bận rộn như thế, ta luôn nói vì Lục chưởng quầy quá biết tiêu tiền, ta phải kiếm nhiều thêm một chút.
Mỗi sớm mai mở cửa sổ, trên sông đều có thuyền từ trong sương trôi ra, khách mới giẫm lên con đường đá ướt át bước vào cửa.
Lục Văn Nghiễn sẽ bưng cháo nóng đứng dưới lầu, ngẩng đầu gọi một tiếng Vãn Đường, sợ ta không nghe thấy còn giơ bát lên lắc lắc.
Ta đáp chàng một tiếng, xách hòm t.h.u.ố.c xuống lầu.
Bậc gỗ dưới chân được ánh mặt trời hong đến ấm áp, cây hải đường ngoài cửa đang nở rực rỡ.
Phong tuyết năm xưa đã lùi rất xa, ta đi xuyên qua tiếng người rộn ràng đầy sảnh, đi về phía chàng, cũng đi về phía con đường rộng rãi do chính tay mình lựa chọn.
HẾT.